Trần Thị Bông Giấy

(Trích
NHỮNG MẨU RỜI DẤU ÁI Tập I)
(Kiến Thức
Văn Học)
(Viết cho Âu Cơ, con gái đă
đọc một cách say mê
Tội Ác Và H́nh Phạt khi chưa
đầy 14 tuổi.)
Năm 1812, chỉ 9 năm trước khi
Dostoievski chào đời, vị Hoàng đế lừng danh
nước Pháp, Napoléon đệ I, và cả đạo quân
hùng hậu của ông đă bị tống khứ ra
khỏi nước Nga trong cuộc chiến Franco-Russie (kéo
dài từ 24/6/1812 đến 30/12/1812). Sự kiêu hănh theo
điều này lan tràn trong toàn thể nước Nga.
Tại một hội nghị ở Vienne, Alexandre I, vị
Nga hoàng trẻ tuổi đọc lên bài diễn văn ca
ngợi cái chiến thắng vang lừng ấy. Dân chúng Nga
trong cơn say sưa cao độ của ḷng yêu
nước đă tự cho rằng quốc gia họ
hơn hẳn các nước Tây Âu.
Tuy nhiên,
một sự thật vẫn xảy ra ở Nga là giai
cấp nông nô c̣n hiện hữu và những luật lệ
khắc nghiệt của giới quư tộc và giới tu
hành vẫn cứ vững mạnh. Lớp dân chúng,
đại đa số đều nghèo khổ và ngu
dốt. Khái niệm về sự tự do cá nhân đă
từ lâu ổn định trên các nước Anh, Pháp, Mỹ,
th́ lúc bấy giờ chỉ mới bắt đầu xâm
nhập vào nước Nga.
Đó là
một thời kỳ vô cùng rối loạn về thay
đổi chính trị và xă hội ở Nga. Mọi
người dân hầu như cảm nhận rằng quê
hương họ đang sắp sửa bước vào
một kỷ nguyên mới trên đủ mọi mặt
(trước khi dẫn đến tột điểm
cuối cùng hoàn toàn cắt đứt với quá khứ là
cuộc cách mạng vô sản 1917 xảy ra gần một
thế kỷ sau.)
Chào
đời năm 1821, đúng vào thời điểm Púshkin
bắt đầu bước lên đài danh vọng và Gogol
c̣n chưa được ai biết đến, cũng là
thời gian trị v́ ngai vua của Alexandre I, Dostoievski
đă sống trọn đời ḿnh trong cuộc chuyển
hướng đổi thay của vùng trời nơi ông
được sinh ra tại đó. Ông rút tỉa những
kinh nghiệm tận cùng trải qua từ cuộc xáo
trộn quan trọng của quê hương, cho đến
những đắng cay nghiệt ngă phải nhận lănh
trong số phận riêng để giới thiệu vào
thế giới văn chương bằng một tài
năng phong phú đă được Thượng
Đế ban riêng như một thứ gia tài hiếm có. Từ
thuở thiếu niên, sự bất hạnh của kẻ
khác đă tạo nên trong ông một ấn tượng
mạnh mẽ. Suốt cả cuộc đời về
sau, “đau khổ” hiện hữu là chủ đề chính
trong các tác phẩm lớn của ông. Đau khổ cần
thiết phải có để làm thăng hoa cuộc sống.
Đau khổ trở thành mật ngọt cứu rỗi
linh hồn con người.
Được
nh́n nhận bởi André Gide(1)
là “văn hào vĩ đại nhất thế giới” và
được Freud đặt để vị trí cạnh
bên chỗ đứng Shakespeare(2),
có thể nói rằng không tác giả nào viết về cá
chất người Nga một cách hoàn hảo cho bằng
Dostoievski, nhà văn lớn mà tính chất vĩ
đại của văn chương ông không chỉ
được công nhận riêng đối với dân tộc
Nga mà c̣n đối cả với bên ngoài thế giới.
Dù
rằng suốt gần một thế kỷ trôi qua kể
từ khi tiếng tăm Dostoievski lên tới tột
đỉnh danh vọng, cuộc cách mạng chính trị và
kinh tế rộng lớn đă chiếm chỗ trong toàn
thể nước Nga, nhưng cái tinh thần Nga của người
dân Nga được khám phá từ Dostoievski vẫn y như
cũ.
Nếu
muốn hiểu về dân tộc và dân chúng Nga, người
ta phải đọc văn chương Dostoievski, bởi
không có ǵ thâm thúy và chính xác hơn trên vấn đề này
ngoài nguồn cội ấy. Và cũng hơn tất cả
mọi nhà văn Nga khác, Dostoievski chính là “một
người Nga” thuần túy. Một người Nga nguyên
thủy trên cả hai nghĩa đen và bóng của từ
ngữ này.
[]
I.
Dostoievski
là một nhánh trong một họ tộc quí phái cổ kính
xứ Lithuanie, một vùng thuộc Nga, nằm về
hướng tây-bắc nước Nga.
Cái
họ Dostoievski phát sinh từ chữ “Dostoyny” có nghĩa là “giá
trị” hay “xứng
đáng”. Hậu duệ của ḍng dơi này được
gọi là “Dostoyniki” (“những
người giá trị của Hoàng thân”).
Cùng gốc rễ c̣n có Dostoyevo, tên
một tỉnh lỵ cách chừng 50km về phía Pinsk
(chỗ hợp lưu của các ḍng sông Pina và Pripyat, nằm
ở vùng cận đông của kênh đào và cũng là
hải cảng quan trọng Dneprovsko-Bugski), trong đó bây
giờ chỉ toàn người Bạch Nga sinh sống.
Năm 1506, một tiền nhân nhiều đời của
nhà văn, Danila Ivanovich Irtish, được vị hoàng thân
địa phương ân thưởng cho một phần
đất của tỉnh, và người cháu nội
vị tiền nhân này đă đổi họ thành ra Dostoievski.
Ngay
thời ấy, người Lithuanie đă bị ảnh
hưởng người Ba Lan rất nhiều, nhưng
về sau, nhà văn luôn luôn nhấn mạnh sự phân
biệt: “Ḍng tộc Dostoievski
là người Lithuanie chứ không phải Ba Lan. Lithuanie và
Ba Lan là hai xứ sở hoàn toàn khác biệt.”
Tuy
nhiên, các ranh giới địa lư và tôn giáo giữa Lithuanie
và Ba Lan th́ liên tục ở vào t́nh trạng thay đổi.
Cuối
thế kỷ 16, những phần tử trong ḍng tộc
Dostoievski có thể được t́m thấy ở Lithuanie,
Ba Lan và Nga. Đây là thời kỳ náo động dữ
dội: sự xung đột giữa Nga và Ba Lan xảy
ra không ngớt, và một cuộc chiến đấu
cuồng điên đau khổ liên tiếp tiến hành
giữa người Nga Chính Thống giáo và Ba Lan Thiên Chúa
giáo.
Các
nhánh của họ tộc Dostoievski có mặt trên cả hai
phía và đạt những kết quả khác nhau. Phía Ba Lan
Thiên Chúa giáo dành được địa vị trong hàng
ngũ chính quyền cao cấp, c̣n phía những người
Dostoievski Chính Thống giáo lại rơi vào t́nh trạng
sống tồi tệ. Vài lư do cho sự sút kém này có thể
được t́m thấy trong những tập hồ
sơ pháp lư của thời ấy.
Đặc
biệt, ḍng tộc Dostoievski bị mang tiếng xấu
về cách cư xử hung tợn. Có vài tội ác vang
dậy khắp vùng. Ví dụ,
ngày
14/10/1606, Marina Stefanovna Dostoievskaya nhử người
chồng, Stanislav Karlovich, tới căn nhà tắm trong trang
trại của họ. Khi ông này xuất hiện bèn bị
ngay một người đầy tớ bắn bị
thương. Máu chảy lênh láng, Stanislav lớn tiếng
cầu cứu nhưng không thấy ai chạy đến.
Ông vừa đi vừa vấp té về phía căn nhà chính,
nhưng vợ ông đă cài chốt cửa lại. Ông
đứng ngoài trời, cầu
xin được vào, bất thần lại bị
người đầy tớ tấn công lần nữa
–lần này bằng gươm. C̣n bà vợ Marina Dostoievskaya
lại rít lên với người đầy tớ: ‘Đưa
ông ta xuống địa ngục đi!’ Ông chồng gục
chết. Những con chó, những con heo vây quanh cái xác. C̣n
Marina th́ giấu kẻ sát nhân trong vựa thóc. Vài ngày sau
đó, người ta thấy tên đầy tớ này
đứng kế bà chủ trong buổi tang lễ của
chồng.
Những
tài liệu hợp lư khác lại nói lên các cuộc phiêu
lưu đầy máu của những người trong ḍng
tộc Dostoievski tại các vùng đất láng giềng;
hoặc cái ư muốn nung nấu sự chiếm lấn
của họ trên tài sản thuộc chính quyền và giáo
hội.
Tuy
nhiên, giống như sự diễn tả về sau trong các
tiểu thuyết của nhà văn, cũng đă có sự
xuất hiện của những khuôn mặt thánh thiện.
Vào đầu thế kỷ 18, Akindy Dostoievski là tu sĩ
trong một tu viện đáng tôn kính ở Kiev.
Từ
thế kỷ 17, những người Dostoievski Chính
Thống giáo đă đến định cư tại Volhynia,
xứ Ukraine. Do những tiêu xài quá độ mà họ
bị mất hết tiền bạc, tài sản.
Nhà
văn tương lai xuất thân từ một gia đ́nh
công chức nghèo khổ. Cả hai phía ông cố và ông
nội đều là tu sĩ trong giáo hội Uniat Ukrainian
ở Bratslava, một tỉnh thuộc vùng Podolsk của
Ukraine. Tại đây, ông Mikhail Andreyevich Dostoievski (cha của
nhà văn) được chào đời năm 1789.
II.
Trong
thế giới văn chương, có vài người cha
của các nhà văn được đề cập
tỉ mỉ với tầm vóc quan trọng, nhưng không ai
từng gợi hứng cho các cuộc bàn căi nhiều như
ông Mikhail Andreyevich (cha của Dostoievski). Nói về ông,
người ta nghĩ ngay đến hai luồng dư
luận đối nghịch dữ dội:
1/
Từ Lyubov Dostoievskaya, con gái nhà văn, diễn
tả ông nội giống như một bạo chúa chuyên
chế trong gia đ́nh, tính t́nh keo kiệt bủn xỉn,
say sưa, dữ tợn và trụy lạc.
2/
Từ Andrei Mikhailovich Dostoievski, em trai nhà văn, nói
về cha như một người biết yêu
thương gia đ́nh, dẫu tính khí bất thường,
mau nổi nóng, nhưng lại có từ tâm.
Tuy
nhiên, theo nhiều tài liệu để lại, bác sĩ
Dostoievski rơ ràng là một người phức tạp
với những dấu nét xung đột cá nhân. Vẻ
bề ngoài buồn sầu, ảm đạm, lầm ĺ ít
nói, tính nết đa nghi, khó chịu, ông cũng lại là
một người can đảm, đầy nghị
lực, không ngừng nghĩ đến vợ con và sâu xa
tận tụy v́ họ.
Giống
như cha và ông nội, năm 15 tuổi, ông Mikhail Andreyevich
Dostoievski được chỉ định đi vào con
đường tu hành. Những năm tháng trải qua
ở tu viện trong Kamenets-Podolsk đă cho ông một
nền giáo dục tốt, đặc biệt về ngôn
ngữ và văn chương.
Nhưng
khác với tiền nhân, ông Mikhail cảm thấy không có
tiếng gọi thiêng liêng tuôn chảy trong hồn. Do đó,
lúc 20 tuổi, sau khi tốt nghiệp tại tu viện
Kamenets-Podolsk, thay v́ tiếp nhận chức vụ linh
mục, ông lại bỏ trốn, thẳng đường
đến Moscow học về thuốc. Cuộc tan vỡ
gia tộc rơ ràng bi thảm. Về sau, ông thất bại
trong việc nối lại giao hảo với gia đ́nh.
Cũng v́ thế mà không ai trong số các con ông từng biết
được những họ hàng phía bên nội.
Mùa
thu năm 1809, (một phần do bởi sự trôi chảy
trong tiếng Latin), ông Mikhail Andreyevich Dostoievski
được cấp một học bổng tại
trường Y Khoa Phẫu Thuật Hoàng Gia Moscow, nơi
đào tạo những y sĩ giải phẫu cho lục
quân và thủy quân. Hầu hết sinh viên tại đây
đều trẻ tuổi, xuất thân từ những gia
đ́nh trung lưu hay b́nh dân. Thời gian này thật khó
khăn cho Mikhail Andreyevich. Ông không có phương tiện,
lại chẳng quen biết ai; nhưng với ư chí bất
khuất, ông cố gắng tối đa để luôn luôn
đạt tới vị trí dẫn đầu trong
chương tŕnh học.
Cuộc
xâm lăng của Napoléon năm 1812 kết thúc sự
học của Mikhail Andreyevich. Ông bị gửi ra tiền
tuyến. Trong trận Borodino, Mikhail Andreyevich làm việc
tại một bệnh viện dă chiến. Mùa thu năm
đó, ông nổi bật trên vai tṛ phục vụ hăng say
và can đảm trong cuộc tản cư hơn ba
mươi ngàn thương binh khỏi Moscow. Về sau, ông
tham gia chiến dịch chống lại chứng
thương hàn khi ấy đang lan tràn trầm trọng
trong nhiều tỉnh.
Sự
tận t́nh của Mikhail Andreyevich Dostoievski trong vô số các
vụ phẫu thuật, những cảnh tàn phá dữ
dội nh́n thấy hằng ngày trong thời kỳ chiến
tranh đă để lại dấu ấn nặng nề
trên cá chất ông. Ông thường xuyên gay gắt, nghiêm
khắc và rất hiếm khi cười. Tuy nhiên, sự
chuyên cần và nhiệt tâm đă dẫn Mikhail Andreyevich
đến những thăng tiến vững vàng trong
nghề nghiệp. Năm 1813, ông được ban thưởng
chức vụ bác sĩ chính thức, và năm 1818,
được chỉ định làm giám đốc bác
sĩ trưởng tại Quân Y Viện Moscow.
Năm
1819, ông cưới một cô gái 19 tuổi tên Maria Fyodorovna
Nechayeva làm vợ. Khi đứa con đầu ḷng chào
đời, để có được một đời
sống ổn định, gần cuối năm 1820, ông
đệ đơn xin giải ngũ.
*
* *
Tính
t́nh hoạt bát vui vẻ, Marya Fyodorovna là con gái của Fyodor Nerchayev, vị
thương buôn giàu có ở Moscow nhưng đă mất
gần hết tài sản trong cuộc xâm lăng năm 1812
của quân đội Napoléon.
Giống
như nhiều người trong gia đ́nh, bà cũng có
khiếu âm nhạc và duy tŕ mối ưa thích sâu xa về
văn chương nghệ thuật trong tâm khảm. Ông
ngoại bà, Mikhail Kotelniski, là người có kiến
thức rộng, ham đọc sách, hành nghề sửa
bản in thử tại cơ quan Báo Chí Giáo Hội trong Moscow.
Người chú tên Vasily Kotelniski là giáo sư y khoa của
trường Đại Học Moscow. Khi bà được
13 tuổi, mẹ chết. Một cô gái trẻ tên Olga
Yakovlevna vào thay thế vai tṛ người mẹ. (Trong
nhiều năm sau, bà d́ ghẻ này không nhận
được sự đón tiếp ấm áp của gia
đ́nh Dostoievski).
Cuộc
hôn nhân với Mikhail Andreyevich Dostoievski không nẩy sinh
từ lư do t́nh cảm. Là con gái một thương buôn
bị phá sản, Marya Fyodorovna chỉ đơn giản
nghĩ đến việc lấy chồng như một
sự nương tựa vào người đàn ông có
thể bảo bọc cho ḿnh. Bà chị lớn tên Alexandra
được nhiều may mắn hơn trên phương
diện này; bà lấy một thương buôn rất giàu tên
Alexandre Kumanin. Về sau, bà cũng là mẹ đỡ
đầu của tất cả các đứa con nhà
Dostoievski. Nhưng dẫu với điều này, mối liên
hệ giữa hai gia đ́nh vẫn gượng ép. Vị
bác sĩ kiêu hănh xem sự trợ giúp tài chánh của bà
chị vợ cho gia đ́nh ông giống như một
sự sỉ nhục, và cậu con nhà văn tương lai
lại có chút coi thường đối với “những vị chủ quán
đáng thương” này. (Dù vậy, ở vào tuổi
thanh niên, mỗi khi túng tiền, gia đ́nh Kumanin lại là
những “quư nhân” quan
trọng của chính Fyodor Dostoievski).
Cũng
nhờ ảnh hưởng họ hàng của Marya Fyodorovna
mà từ năm 1821, bác sĩ Mikhail Andreyevich Dostoievski
được nhận vào làm việc trong bệnh viện
Mariinskaya được dựng nên khoảng giữa
1803-1806, dưới quyền bảo trợ của Hoàng
hậu Nga.(3)
III.
Mariinskaya
là bệnh viện dành riêng cho người nghèo, tọa
lạc tại một trong các vùng dơ bẩn tồi tàn
nhất ở ngoại ô Moscow. Cặp vợ chồng
trẻ xây tổ ấm trong ṭa nhà bên phía phải của
bệnh viện.
Nơi đây, Fyodor
Mikhailovich DOSTOIEVSKI chào đời ngày 30/10/1821.
Vài năm sau, gia
đ́nh dời sang ṭa nhà phía trái và lưu trú trên tầng
lầu nh́n ra đường phố. Trong khoảng không
gian cô lập xa rời những bệnh nhân lao phổi của
bệnh viện, cắt đứt hẳn với thế
giới bên ngoài, thời thơ ấu của Dostoievski
đă trải qua.
Vùng
đất chung quanh cũng chẳng mấy gợi nên bao
nhiêu thích thú. Dân chúng không tùy thuộc vào xứ đạo.
Đàng sau bệnh viện là nhà xác, nơi dung thân cho
những tên du thủ và cướp bóc. Gần đó là
một trạm dừng của những phạm nhân bị
chuyển đi Tây Bá Lợi Á. Bên ngoài cửa sổ pḥng
khách, thỉnh thoảng vẫn có các người tù khổ
sai kéo lê mệt nhọc tấm thân c̣m cơi dọc dài con
đường Novya Bosyedomka trên chuyến lưu đày
khổ sai của họ.
Phần
đen tối của cuộc đời được
nh́n thấy rất sớm dưới đôi mắt
Dostoievski.
Trong
căn nhà thời thơ ấu, nhà văn thường xuyên
chứng kiến cảnh tượng ảm đạm
về sự đau khổ, nghèo khó và sự chết.
Cũng
từ tuổi nhỏ, Dostoievski đă học cách cưu mang
sự đau khổ sâu xa bên trong tâm hồn ḿnh.
Người
anh cả Mikhail, lớn hơn một tuổi, và cô em gái
kế Varenka lại nhỏ hơn Dostoievski một tuổi.(4) Riêng Andrei, em trai nhà văn,
lại có một tầm quan trọng cho giới học
giả bởi những hồi kư ông viết về thời
thơ ấu của đám trẻ nhà Dostoievski. Ngoài
những thư từ liên lạc giữa Fyodor và cha mẹ,
tập hồi kư của Andrei đă soi sáng rất nhiều
những diễn biến trong thuở thiếu thời
của nhà văn.
Nơi
cư trú của gia đ́nh Dostoievski tương đối
khá rộng. Đó là một căn chung cư dính liền
với nhà thương Mariinskaya, dành riêng cho nhân viên bệnh
viện. Từ ngoài bước vào là một tiền
sảnh nhỏ, ban ngày dùng làm nơi khám bệnh tư
của bác sĩ Dostoievski, ban đêm là chỗ ngủ
của Mikhail và Fyodor, hai cậu con trai lớn. Kế
tiếp là pḥng khách rộng có ba cửa sổ nh́n ra sân và
hai cửa sổ khác nh́n bao quát khắp đường
phố. Pḥng đọc sách cạnh bên, hơi nhỏ
hơn pḥng khách và cũng có những cửa sổ nh́n ra
đường phố. Nơi đây, bác sĩ Dostoievski
từng dạy những buổi học Latin cho hai
người con lớn và hằng buổi chiều, cả
nhà quây quần lại, đọc sách cho nhau nghe. Đàng sau
pḥng đọc sách là pḥng ngủ rộng, ngăn ra làm hai
buồng nhỏ bằng một bức tường thấp,
một căn dành cho hai ông bà Dostoievski, căn c̣n lại là
chỗ ngủ của các người con nhỏ.
Với
quá tŕnh giai cấp tu sĩ nghèo khổ, và lúc bấy
giờ, từ sáng đến tối chỉ toàn nh́n thấy
sự nghèo khó, bác sĩ Dostoievski không ngừng bị ám
ảnh bởi sự sợ hăi nghèo khổ. Đầu óc
ông lúc nào cũng lởn vởn ư tưởng làm sao
để đưa gia đ́nh lên một địa vị
đáng tôn kính hơn trong xă hội. Cuộc tranh đấu
thật gay go. Trong vai tṛ bác sĩ tại bệnh viện
Mariinskaya, lương của ông chỉ được vài
trăm rúp một năm; có những lần ông phải vay
trước mới đủ cho gia đ́nh xoay sở. Tuy
nhiên, ông được cho phép chữa bệnh riêng ngoài
giờ làm việc và thu được một số
lợi tức kha khá.
Để
phù hợp với địa vị bác sĩ, ông đă
tậu một chiếc xe bốn ngựa và thuê
được 7 người hầu phục vụ trong gia
đ́nh. (Nông nô ở Nga thời ấy đầy dẫy và
thuê giá rất rẻ. Một gia đ́nh khá giả
thường có khoảng 60, 70 nông nô.)
Theo
từng ngày, nghề nghiệp của bác sĩ thăng
tiến. Các huân chương “v́
những phục vụ đặc biệt”
thường xuyên được trao vào tay ông. Cuối cùng,
ông đạt tới chức giám đốc bác sĩ
trưởng bệnh viện Mariinskaya. Cho đến tháng
4/1828, ông nhận huy chương hạng ba và
được đề cử lên hàng hội viên hội
đồng y khoa trong toàn nước Nga. Điều này
tạo cho ông cái quyền ngang hàng với giới quư tộc
trong hệ thống giai cấp ở Nga. Không bỏ lỡ
cơ hội, bác sĩ vội vă đệ đơn lên
triều đ́nh. V́ vậy, ngày 28/6/1828, tên của ông
cùng hai người con lớn (Mikhail và Fyodor Dostoievski)
được ghi vào hàng danh sách giới quư tộc cha
truyền con nối ở Moscow.
IV.
Đám
trẻ bắt đầu sự học của họ vào
tuổi lên bốn. Người mẹ dạy các con
những mẫu tự Nga xuyên qua quyển Cựu
Ước & Tân Ước. Một cách tự nhiên,
Thánh Kinh là quyển sách quan trọng nhất trong lối giáo
dục của gia đ́nh Dostoievski.
Là
một phụ nữ thụ động, bà Dostoievski
hiện thân cho kiểu mẫu dịu dàng, hy sinh, tôn kính
chồng và lúc nào cũng chỉ quanh quẩn trong nhà. Bà
rất sùng đạo Thiên Chúa. Fyodor học được
ḷng sùng kính này từ khi thơ ấu vẫn quỳ bên
gối mẹ mà nghe giảng giải. Nhà văn luôn giữ
trong tim h́nh ảnh mẹ như một thiên thần vừa
giang rộng đôi cánh bay vừa cất lời hát: (5)
“J’ai le coeur tout plein
d’amour,
Quand
l’aurez-vous à votre tour?”
(Tôi có
trái tim đầy t́nh tự.
C̣n em,
đến bao giờ mới được điều
trên?”
Ngoài
ra, đám trẻ c̣n được ban cho những bài
học rút từ quyển sách phiên dịch từ tiếng
Đức: Một Trăm Lẻ Bốn Câu Chuyện Các
Thánh Chọn Lọc Từ Cựu Ước Và Tân
Ước Dành Cho Trẻ Em. Quyển sách to lớn này,
một gạch chéo giữa các câu chuyện trong Thánh Kinh và
sách giáo lư, được đ̣i hỏi thuộc ḷng.
Sự sáng tạo thế giới, hai vị thủy tổ
Adam và Eva trong vườn Địa Đàng, Cơn
Đại Hồng Thủy, cuộc phục sinh Lazarus... là
những nguyên ủy đầu tiên về đạo
Thiên Chúa mà Dostoievski đă học được và về
sau chiếm một vị trí rất lớn trong văn
chương ông.
Không
dữ kiện quan trọng nào trong gia đ́nh Dostoievski
lại không được mở đầu bằng
một cuộc thánh lễ. Do đó, ḷng mộ đạo
của Fyodor khai mở rất sớm.
Ngay
cả trước khi biết đọc, Fyodor đă
bị xúc động sâu xa bởi các huyền thoại
về đời sống những vị thánh trên con
đường tu khổ hạnh đi đến cùng
Thượng Đế với tấm ḷng trắc ẩn
vị tha. Trên hết, Chúa Jésus là kiểu mẫu trong
sạch, hy sinh hoàn hảo nhất. Ngay từ tuổi
nhỏ cho đến măi về sau, nhà văn luôn bị mê
hoặc bởi h́nh ảnh cao thượng của
Đấng Cứu Thế. Ngoài ra, quyển sách
của thánh Job, một bi kịch tôn giáo, cũng đă mang
một tác động to lớn.
[Trước
khi chết, Dostoievski đă viết cho vợ những
lời này: “Anh đọc Job và
bị đau đớn đến độ ngây ngất.
Anh đặt sách xuống, đi ṿng ṿng quanh pḥng nhiều
giờ. Điều duy nhất anh có thể làm là giữ cho
ḿnh khỏi khóc. Thật lạ, Anya à, đó là một trong
những quyển đầu tiên làm xúc động anh sâu xa
khi anh mới chỉ là một đứa trẻ”.]
Khi đám trẻ
c̣n bé, một thầy giáo tư được mời
tới dạy kèm cho họ. Anh em Dostoievski đặc
biệt giỏi tiếng Pháp và ông cha bác sĩ tỏ ra
rất kiêu hănh khi họ vinh danh ông với ḷng kính trọng
bằng tiếng Pháp trong ngày lễ tên thánh của ông.
Với bác sĩ,
phương tiện thu thập hiểu biết hay ho hàng
đầu chính là sự đọc sách. Do đó, ông không
ngừng rèn luyện các con sự ư thức quan trọng
của việc tự kỷ và lao động đầu
óc.
Riêng hai cậu con
trai lớn, bác sĩ thường lưu ư họ –như
một tấm gương sáng- về vị tu sĩ trong
bệnh viện, người đă hoàn thành tốt
những cuộc thi vào đại học, xong kết
luận: “Tưởng
tượng các con ta mà làm được thế, ta hẳn
sẽ chết trong an ổn.”
Những
lời này của ông đă là nguyên nhân thúc đẩy và làm
tăng trưởng ước muốn thành công trong hai
người con lớn.
[Dostoievski
viết trong tác phẩm Tuổi Trẻ Trinh Nguyên
rằng: “Từ khi tôi bắt đầu biết mơ mộng,
ngay thuở ấu
thời, kéo dài trong mọi hoàn cảnh sống về sau,
tôi không làm việc ǵ mà không tưởng nghĩ đến
câu nói ấy của cha tôi.”]
Bác
sĩ tỏ ra rất gắt gao trong việc học
của đám con, đặc biệt với Mikhail và Fyodor.
Trong các ngày nghỉ lễ, ông cũng buộc họ
phải chu toàn các bài toán h́nh học để th́ giờ
khỏi bị lăng phí. Tệ hơn cả là các bài học
Latin do chính ông dạy cho hai con.
[Trong
tập hồi kư, Andrei Mikhailovich đă minh họa
được một bức vẽ sống động
về người cha khí chất nóng nảy: “Các anh tôi
luôn sợ hăi những buổi học Latin, thường kéo
dài khoảng một giờ, hay
hơn chút nữa. Họ chẳng dám ngồi và cả không
dám tựa tay lên mặt bàn. Họ phải đứng
thẳng giống như những tượng đá, khi
đến lượt ai th́ người ấy cúi
đầu trả bài ‘mensa, mensae’ hoặc cùng đọc to
‘amo, amas, amat’ (...)
Dù
rằng tốt tính, cha cũng là một người
cực kỳ không kiên nhẫn. Trên tất cả, ông mau
nổi nóng. Nếu chẳng may trong lúc trả bài mà các anh
vấp phải một lỗi nhẹ nhất, cha cũng la
thật lớn, gọi họ là đồ khùng điên
lười biếng. Trong cơn giận cao độ, dù ít
khi xảy ra, ông ngưng ngang bài học. Điều này
phải kể là tồi tệ hơn bất cứ h́nh
phạt nào.”(6) Với Fyodor, các bài học Latin lại là đặc
biệt khó. “Họ cười vào tôi bởi v́ tôi không thể
theo kịp anh tôi”, nhiều năm sau, nhà văn
viết.]
V.
Gia
đ́nh Dostoievski không bao giờ viếng thăm ai hoặc
chấp nhận khách đến thăm viếng. Con cái
cũng chẳng được cưng chiều âu yếm
hoặc để cho tự do phóng túng. Tất cả
đều rất kỷ luật, thận trọng và ư
tứ đối với mọi người lẫn
thực trạng sống chung quanh.
Ngoài
vài đứa trẻ gia đ́nh các nhân viên cùng cư ngụ
chung trong khu bệnh viện, anh em Dostoievski không có bạn
chơi cùng tuổi và cũng gần như không liên lạc
với thế giới bên ngoài. Có một cô gái nhỏ 9
tuổi, bạn thân nhất của Fyodor, một ngày kia
được t́m thấy bị hiếp trong sân bệnh
viện. Cô chết ít lâu sau đó. Biến cố kinh
khủng này làm thành một ấn tượng sâu
đậm trong tâm hồn nhà văn và sẽ trở đi
trở lại măi trong các tác phẩm của ông về sau.
Bác
sĩ Dostoievski cố gắng giữ không cho đám con
đến gần những bệnh nhân và không bao giờ cho
phép họ ra khỏi bệnh viện mà không có sự
đồng hành của người hầu hay cha mẹ. Măi
đến năm 16 tuổi, Fyodor đi đâu cũng có
người lớn kèm theo một bên. Nhưng khi đám
trẻ lén trốn đi đến chơi nhà chị
người làm Maria Grove đáng yêu, cư ngụ phía
đàng sau bệnh viện, hai người con lớn luôn
dẫn đầu các tṛ tinh nghịch.
Tính
t́nh Fyodor đặc biệt nóng nảy. Cha mẹ gọi
ông là “đứa bộp
chộp”. Ông bị tiếng ngoan cố và hay thề
thốt. “Từ từ nào,
Fedya, nếu không con sẽ bị mắc vào điều
ấy”, cha ông thường cảnh giác. “Rồi sẽ thấy, con phải kết thúc
cuộc đời bằng cái mũ đỏ mà thôi!” Vị
bác sĩ, tiên tri một cách vô thức khi ám chỉ
đến những cái mũ đỏ các người tù
lao dịch phải đội trong trung đoàn khổ sai
ở Sibérie.
Tuy
nhiên, cái thế giới nhỏ bé thân mật với
những luật lệ bất biến trong gia đ́nh;
đàng sau cánh cổng rào khu vườn bệnh viện có
những bệnh nhân mặc áo ngủ, đội mũ
ấm, vừa tản bộ vừa tṛ chuyện; các
lời kể về Con Chim Lửa và Chàng Ivan Tsarevich của
cô y tá Lukerya; buổi lễ nhà thờ ngày Chủ Nhật
dài thậm thượt phải đứng suốt và các
buổi đọc sách ban đêm trong gia đ́nh... tất
cả đă chính là những h́nh ảnh tổng hợp,
kết nên thời thơ ấu của Dostoievski. Ông ǵn
giữ kỷ niệm về bà vú già to lớn tên Alyona
Frolovna đă dạy lời cầu nguyện cho ông khi lên ba
tuổi. Ông tích trữ h́nh ảnh những cuộc dạo
chơi mùa hè trong rừng Mary, các cuộc hành hương
hằng năm tại tu viện St. Trinity Sergius ở
ngoại ô Moscow, lối kiến trúc ngôi giáo đường
Kremlin trang trí đẹp đẽ, giọng hát thánh lễ
và vô số khách hành hương... như những gia sản
êm đềm quư báu.
Chân
dung Dostoievski là “nhà văn
của giới nghèo, xuất thân trong một gia đ́nh
gần như vô sản” th́ không có nền tảng
vững chắc.
Giống
như hầu hết các nhà văn Nga thế kỷ 19,
Dostoievski cũng là một người quư tộc. Tuy nhiên,
tính quư tộc của gia đ́nh ông chỉ đứng vào
một hàng ngũ thấp hơn so với giai cấp
thượng lưu cổ kính mà Tolstoi và Tourgueniev đă
thuộc vào. Sự chiến đấu của bác sĩ
Dostoievski cho địa vị xă hội của gia đ́nh,
chắc chắn đă đóng một vai tṛ quan trọng
trong sự thấm cảm của chàng tuổi trẻ Fyodor
về những phân việt giai cấp trong xă hội Nga
thời ấy. Những nhận thức tinh tế
về nỗi đau khổ của giới người hèn
kém –-không phải bắt nguồn từ sự nghèo
khó mà chính từ những sỉ nhục phải nhận
lănh từ giới quyền thế-- đă sớm trở
thành mối đau khổ lớn của Fyodor Dostoievski.
Nhưng
nói chung, giữa ông bà bác sĩ và các nông nô có một quan
hệ tốt. Trong tất cả các người hầu,
Alyona Frolovna là quan trọng nhất với Fyodor. Vóc dáng cao
lớn, béo mập, tâm hồn khoáng đạt, bà ở
với ông bà Dostoievski từ khi hai người mới
cưới nhau. Năm Fyodor lên ba tuổi, chính bà đă
dạy cho cậu câu kinh đọc mỗi đêm
trước khi đi ngủ “Lạy
Mẹ Maria, tất cả những hy vọng của con
đều đặt vào Mẹ. Xin cho con được
nương tựa dưới sự che chở của
Mẹ.”
[Dostoievski
không bao giờ quên câu kinh này. Ông nhắc măi trong suốt
cuộc đời và dạy lại cho các con ḿnh. “Tôi
xuất thân từ một gia đ́nh Nga”, ông nói trong
tuổi thanh niên, “chúng tôi biết Kinh Thánh ngay từ cái nôi thơ ấu.”
Sau vụ cháy tiêu tan ṭa thái ấp Darovoyo của gia đ́nh
Dostoievski năm 1832, bà Alyona đă sốt sắng dâng
biếu cho chủ nhân toàn thể số tiền tiết
kiệm của bà: “Xin hăy nhận số tiền hèn
mọn này. Tôi không có nhu cầu để tiêu dùng nó.”
Dostoievski cũng không bao giờ quên dữ kiện này.
Về sau, nhà văn biểu dương Alyona như một
điển h́nh sáng chói của giới b́nh dân Nga, những
người được trui rèn bởi lư tưởng
Thiên Chúa giáo.]
Những bà vú
thường xuyên thay đổi đă đóng một vai tṛ
quan trọng với đám trẻ nhà Dostoievski. Tài năng
những phụ nữ này được phơi bày rơ qua
các câu chuyện thần tiên. Khi tiếng kể bắt
đầu, đám trẻ bị cuốn hút bởi sự
sợ hăi pha lẫn hoan hỉ. Căn pḥng không một
tiếng động, chỉ âm thanh duy nhất
được nghe là tiếng sột soạt của cây bút
trong tay bác sĩ bên pḥng kế cận; (ông đang viết
những toa thuốc và giấy khai tử cho bệnh nhân). Dưới
ảnh hưởng của các người đàn bà nhà quê,
chuyện dân gian là cái mốc gặp gỡ đầu tiên
giữa Fyodor và nghệ thuật kể chuyện.
“Ba tuổi, tôi đă được nghe
những chuyện thần tiên không thể nào quên
được.”
Sự
thích thú của Fyodor trên lănh vực này càng tăng
trưởng sâu đậm hơn qua cuộc thăm
viếng của gia đ́nh trong buổi hội ở
Shrovetide. Tại đây, nhà văn nh́n thấy ca kịch dân
gian thật sự của người Nga với những
con gấu nhảy múa, những con khỉ được
huấn luyện diễn tṛ, các anh hề vui nhộn, các người
đàn ông khỏe mạnh đi trên hai chiếc cà khêu. Khi
trở về, ông nhắc lại măi một cách thật linh
hoạt tất cả những ǵ nh́n thấy.(7)
Tuy
nhiên, các cuộc đi chơi tập thể không mấy khi
xảy ra. Trong một dịp duy nhất, bác sĩ đem
đám con đến nhà hát xem tŕnh diễn kịch phẩm Những
Kẻ Cướp của Schiller do đại diễn
viên Mochalov thủ vai chính.
[Kịch
phẩm được xem khi Fyodor lên mười lại là
nguồn cảm hứng tương lai cấu tạo nên Anh
Em Nhà Karamazov: “Ấn tượng mạnh mẽ
từ kịch bản này về sau đă có một hiệu
quả sâu đậm trên sự khai
mở tinh thần của tôi. Tôi luôn luôn ngưỡng
mộ Schiller kể từ thuở ấy”, nhà văn
viết lúc gần cuối đời.]
VI.
Nếu
suy luận như nhiều nhà viết tiểu sử
rằng Dostoievski đă có một tuổi thơ đau
khổ th́ thật không đúng lắm. Tuy là một người
nóng tính, nhưng đối với đám con, bác sĩ
lại chỉ áp dụng kỷ luật chặt chẽ mà
không dùng đến h́nh phạt nhục thể. Ví dụ,
vào mùa hè, khi bác sĩ ngủ trưa, mỗi người con
được chỉ định thay phiên nhau đứng
cạnh giường phẩy ruồi cho ông bằng một
nhánh lá chanh.
[Trong tập hồi kư,
Andrei cũng viết: “Nhiều khi cha tỏ ra rất vui
vẻ v́ hạnh phúc gia đ́nh.”]
Riêng
những kỷ niệm về sau nhà văn ghi lại
về một “thời thơ ấu b́nh an” th́ thường là bị thúc
đẩy duy nhất bởi sự hoài cảm. Dostoievski
nhớ lại trong nỗi vui thú đặc biệt về
những buổi tối gia đ́nh quây quần tại pḥng
khách, đọc sách với nhau. Cả cha lẫn mẹ
đều là những người đọc sách tuyệt
diệu và hai cậu con lớn cũng không thua kém họ.
Những tiết mục đọc phong phú và thay
đổi luôn luôn. Tác phẩm ái quốc Lịch Sử
Nước Nga của Nikolai Karamzin kích thích mạnh tinh
thần quốc gia trong Dostoievski. Nhưng phần
tiểu thuyết mới là quan trọng hàng đầu.
Bác sĩ đặt mua dài hạn tờ Tủ Sách Cho
Người Đọc, một tạp chí định
kỳ nổi tiếng, chứa đựng rất
nhiều tin tức về các biến cố văn
chương trong và ngoài nước thời ấy .
Lần
hồi từng bước, cậu nhỏ Fyodor
được giới thiệu vào thế giới chữ
nghĩa qua suốt nhiều kỷ nguyên. Các nhà văn
thuộc phái Lăng Mạn làm điên đảo ư nghĩ ông.
Các câu chuyện kinh dị của Ann Radcliffe(8)
khiến nhà văn “cứng người trong mê say và kinh
hăi”. Giữa các thi sĩ Nga, Fyodor ưa thích đặc
biệt Vasily Zhukovski và Púshkin. Những bản anh hùng ca
của Homer và các tiểu thuyết về một mẫu
Hiệp Sĩ hào hoa của Cervantès(9)
và Sir Walter Scott(10)
được mến chuộng dữ dội.
Các
ấn tượng thu nhặt từ văn chương
thời thơ ấu đă quan trọng đối với
Dostoievski hơn bất cứ điều ǵ nhận lănh
trong toàn thể cuộc sống. Sự “làm quen” với các
nhà văn ngoại quốc từ khi 10 tuổi đă rơ ràng
quyết định cái cấu trúc nội tâm nhà văn cao
hơn tất cả mọi ảnh hưởng đưa
đến từ thiên nhiên hay không khí gia đ́nh.
Schiller gây xúc động mạnh cho ông với Những
Kẻ Cướp, nhưng cũng tạo trong ông ư
niệm đầu tiên về cái Đẹp và ḷng cao
thượng. E.T.A. Hoff- mann làm say mê ông với các nhân
vật mất trí; và Walter Scott đưa dẫn ông vào
một thế giới kỳ diệu về các tu viện,
các hiệp sĩ và các phụ nữ xinh đẹp kiêu hănh.
[Gần cuối
đời, Dostoievski nhấn mạnh rằng những tác
phẩm này rất hữu ích cho giới trẻ, khuyến
khích và làm nẩy nở hiệu quả “cảm nghĩ
đẹp và cao quư trong tâm hồn” họ.]
Với
Dostoievski, những buổi đọc sách thời niên
thiếu đă cung cấp được một nền
tảng văn chương cho toàn thể đời ông,
cấu thành ḍng t́nh cảm chảy suốt trong mọi tác
phẩm riêng.
[Về sau, anh em Dostoievski
nhớ lại một cách biết ơn sự hoan hỉ
của cha mẹ trong những buổi tối đọc
sách và cái cách mà họ nói với đám con về những ǵ
đă đọc: “Cha thân yêu nhất đời, làm
thế nào con có thể cảm ơn cha cho đủ về
sự giáo dục mà cha đă ban cho con.” Mikhail kêu lên trong
một lá thư gửi cha năm 1838, “Thật quả
tuyệt diệu để trầm tư trên Shakespeare,
Schiller và Goethe. Những giây phút như vậy vô cùng giá
trị.”]
VII.
Những
quan tâm của bác sĩ về gia đ́nh ngày càng gia tăng.
Ṭa nhà ở bệnh viện trở nên thiếu tiện
nghi, chật chội. Đám trẻ phải trải qua
những mùa hè trong cái sân đáng sợ của bệnh
viện. Riêng bà mẹ th́ đang cho thấy có những
dấu hiệu đầu tiên về bệnh lao phổi.
Phần bác sĩ cũng không khỏe lắm. Công việc
của ông, đặc biệt sự khám bệnh tư,
đă làm ông kiệt quệ. Do đó, ông bắt đầu
t́m kiếm một nơi cư trú khác cho gia đ́nh. Sự
thăng tiến lên ḍng dơi quư tộc đă khiến ông
được quyền có tài sản và nông nô riêng.
Mùa hè 1831, bác sĩ
Dostoievski –dùng tên vợ- mua ngôi làng Darovoye trong vùng Toula, cách
Moscow chừng 150 cây số. Sở đất rộng
hơn năm trăm mẫu và bao gồm 76 nông nô đàn ông.
Không may, một
năm sau, 1832, Darovoye bị lửa tàn phá gần trọn;
kế tiếp lại kéo theo những rắc rối về
sự phân ranh giới vùng đất. Một cựu thiếu
tá tên Pavel Khotyaintsev đ̣i quyền sở hữu vài khu vực
điền sản của gia đ́nh Dostoievski. Khi bác sĩ
mang kiện, vị thiếu tá đe dọa sẽ mua ngôi
làng gần bên với mục đích “bao vây và giữ gia đ́nh Dostoievski trong khu vực
giới hạn.” Bác sĩ thắng kiện. Ông dành mua
được luôn ngôi làng Cheremoshyna, một điền sản
có chừng 67 nông nô; nhưng điều này chỉ càng làm
gia đ́nh rơi sâu vào nợ nần hơn nữa.
Dẫu
vậy, với đám trẻ nhà Dostoievski, việc tậu
mua hai ngôi làng là một biến cố lớn. Từ đó,
các mùa nghỉ hè của họ đă trải qua trong
đồng quê. Tại đây, họ có thể đùa vui
thoải mái như mọi đứa trẻ khác. Trong tṛ
chơi Cao Bồi Và Mọi Da Đỏ hay Robinson
Crusoe, luôn luôn cậu nhỏ Fyodor nhận đóng vai
chỉ huy một cách đầy dũng cảm.
Thỉnh
thoảng cuộc chơi của họ đi quá trớn,
chẳng hạn như đám trẻ tự động
đóng vai những thiên thần và tuần hành quanh cánh
đồng, hát lên những bài thánh ca. Bà mẹ Marya sớm
kết thúc tṛ chơi báng bổ này, nhưng những kỷ
niệm như vậy vẫn c̣n tươi mát khi Dostoievski
viết câu chuyện về các trẻ em nhà quê đă bắn
vào cái bánh thánh.
Gần
Darovoye có một cánh rừng nhỏ được họ
đặt tên là Cánh Rừng Của Fedya. Dẫu
rằng bị cấm không được chơi trong
rừng v́ sợ rắn và chó sói tấn công, nhưng Fyodor
vẫn âm thầm lang thang nơi đây, lượm
những hạt đậu và nấm rơm. Một lần
khi lên 11, đang đi trong rừng, ông chợt nghe tiếng
ai kêu “Chó sói!” Lập tức, ông chạy t́m trú ẩn
nơi nhà một nông nô trong cánh đồng gần đó.
[Thời
gian bị lưu đày Tây Bá Lợi Á, kư ức về
cuộc gặp gỡ với người nông dân Marey này
đă cung cấp cho nhà văn cái sức mạnh t́nh
thương dành cho người nghèo. Marey trở nên là
biểu tượng của ḷng an ủi, hiện thân cho
lớp dân quê khiêm nhường, vị tha, mang cá chất cao
quư thật sự của người
Nga: “Tôi không thể quên cái
cười dịu dàng đầy t́nh cảm của
người nông dân nghèo, cái cách ông làm dấu thánh giá,
lắc đầu th́ thầm: ‘Nào, nào, đừng sợ!’
và cái cách ông cẩn thận đặt ngón tay chuối
mắn, dơ bẩn trên đôi môi run rẩy của tôi.
Hẳn nhiên, về sau cũng có những người lớn an ủi tôi, nhưng
đă có cái ǵ thật đặc biệt trong cuộc
gặp gỡ đó. Ông nh́n tôi bằng đôi mắt trong
sáng và cái cười âu yếm như thể tôi là
đứa con của ông thật sự. Ông đâu cần
phải làm điều ấy? Ông chỉ là một nông nô thô
lỗ và tôi lại là con trai của người chủ ông.
Không ai từng biết về sự âu yếm của ông và
không ai ban thưởng cho ông cả. Có lẽ ông đặc
biệt yêu thích trẻ em. Đă có những nông dân như
thế. Sự gặp gỡ xảy ra trong vùng đồng
quê hoang vắng, chỉ có Chúa chứng kiến hành
động nhân ái sâu xa và sự dịu dàng vô kể của
người nông dân Nga thô lỗ, vô học thức này,
một người có lẽ chẳng bao giờ mang tư
tưởng rằng một ngày trong tương lai, chế
độ nông nô sẽ phải bị băi bỏ.”]
Cũng
tại Darovoye mà Dostoievski gặp nàng Agrafena ngây dại, quanh
năm suốt tháng chỉ mặc trên người chiếc
áo cánh rách rưới, đi chân đất quanh làng, ban
đêm thường vào nghĩa trang, kể lễ một
ḿnh về đứa con đă chết trong trận cháy làng
năm 1832. (Nàng trở thành nhân vật Lizaveta Smerdiakov
trong tác phẩm vĩ đại Anh Em Nhà Karamazov về
sau.) Ngôi làng Darovoye trở đi trở lại nhiều
lần trong các tác phẩm Dostoievski. Nhà văn không bao
giờ quên những mùa hè ở Darovoye.
[Năm
1877, không lâu sau khi trở về thăm làng cũ kể
từ thời thơ ấu, Dostoievski đă viết trong
Nhật Kư Một Nhà Văn: “Cái
góc nhỏ bé và không có ǵ đáng lưu tâm ấy đă ghi
dấu một ấn tượng sâu đậm trong tôi cho
đến cuối đời.”
Hơn
cả thiên nhiên, những nông dân hiền lành của vùng
đất thô dă này đă chiếm được một
chỗ đứng rất lớn trong tâm hồn nhà văn.
Kỷ niệm về những người dân quê làm
mạnh thêm trong ông sự tin tưởng rằng “chế
độ nông nô phải bị băi bỏ”.
Trải
qua các mùa nghỉ hè tại Darovoye, Dostoievski thâu lượm
được rất nhiều hiểu biết xác thật
về giới người cùng khổ Nga so với
nhiều nhà văn đồng thời. Tuổi
thiếu niên vô tư liên hệ với những nông dân rơ
ràng cấu thành tư tưởng xă hội của
Dostoievski về sau. Có thể nói rằng, qua văn
chương, nhà văn đă cố gắng xây dựng
một nấc thang quốc gia ḥa hợp tốt đẹp
giữa giới học thức và giới nông dân,
điển h́nh là các người nhà quê chân thật mà ông
quen biết từ khi niên thiếu. Do đó, sự quyết
đoán của nhiều nhà viết tiểu sử rằng “Dostoievski không hề giao thiệp
thật sự với người dân quê Nga cho đến
khi bị lưu đày Tây Bá Lợi Á” th́ rơ ràng là sai.]
VIII.
Năm
1833, sau khi hoàn tất sự học tại nhà, Mikhail và
Fyodor được gửi theo học trong trường
của Monsieur Souchard, một giáo sư nghèo người
Pháp, cùng với vợ dạy văn phạm Pháp cho đám
trẻ.
Mùa
thu kế tiếp, 1834, hai anh em được chuyển
sang trung học nội trú Chermak ở Moscow, do Leonty Ivanovich
Tchermak làm hiệu trưởng.
Mặc
cho sự nóng nảy của người cha, với Fyodor, gia
đ́nh vẫn là nơi chốn an toàn thân mật trong t́nh
thương và sự che chở của người mẹ.
Ngược lại, một thế giới mới phải
tiếp nhận, rơ ràng là đáng sợ. Do đó, sự
chuyển đổi từ nhà đến trường
học, đặc biệt trong trường nội trú,
đă là một cú xốc ghê gớm cho Fyodor.
Ngôi
trường Chermak dành cho “nam sinh con nhà quyền quư” vào
thời buổi đó được xem là một trong
những trường có tiếng nhất của Nga.
Học sinh ở đây toàn xuất thân gia đ́nh giàu có và
trí thức bậc nhất, địa vị rất cao so
với gia đ́nh Dostoievski.
[Trong
Tuổi Trẻ Trinh Nguyên xuất bản năm 1875,
Dostoievski diễn tả nỗi đau khổ và sự bất
an trong nội tâm riêng khi gia nhập vào một xă hội “toàn đám con cái kiêu mạn
của những công hầu khanh tướng”.“Mi không
được phép ngồi chung với những đứa
trẻ quyền quư; mi đến từ một gia đ́nh
giai cấp b́nh dân và không khá hơn của một
người hầu.”]
Gửi
con vào học trong một trường như vậy rơ ràng
là vượt quá khả năng của bác sĩ. Lệ phí
mỗi năm phải đóng cho một học sinh là 800
rúp, phỏng bằng số lương hằng năm
của bác sĩ tại bệnh viện. Nhưng bác sĩ
là một con người kiêu hănh mang nhiều khát vọng.
Thay v́ gửi con vào một trường công, ông chọn
sự làm việc càng nhiều hơn và chấp nhận
sỉ nhục vay mượn từ gia đ́nh Kumanin
để đánh đổi cho con một nền giáo
dục đáng kính trọng.
Chương tŕnh
học rất nặng, đ̣i hỏi sự cố gắng
tối đa. Một ngày học bắt đầu từ 6
giờ sáng và không chấm dứt trước 9 giờ
tối. Học sinh phải học đủ các môn (Kinh
Thánh, lịch sử, địa dư, tu từ học, toán
và y học); các môn nghệ thuật (viết văn, vẽ,
âm nhạc, khiêu vũ). Quan trọng hàng đầu là
tiếng Latin và tiếng Nga, nhưng học sinh cũng
bị buộc phải trau giồi cả tiếng Hy
Lạp, Đức, Anh và Pháp.
Thành
phần ban giáo sư của trường Chermak
được kể là hoàn hảo nhất thời ấy.
Có nhiều giáo sư ngoại hạng. Một vị học
giả rất nổi danh tên Davydos, là giáo sư văn
chương Nga. Vài người là giảng sư
đại học Moscow, hay thành viên của Viện Khoa
Học. Giữa các giáo sư, có vị thầy người
Nga tên Nikolai Bilevich đă đóng một vai tṛ quan trọng
trong sự khai mở kiến thức văn chương
cho anh em Dostoievski. Với ông, khoa sư phạm có nghĩa là
dạy cho học sinh “sự suy diễn và tŕnh bày
mạch lạc mọi ư nghĩ”. Ông cũng là nhà văn,
bạn học của Gogol, nên có thể giảng giải
rành rẽ cho học sinh về những chủ kiến và
tư tưởng trong các trào lưu văn chương
hiện hành ở Moscow. Mikhail và Fyodor rất mến mộ
ông, xem ông như h́nh ảnh “vị
giáo sư vĩ đại nhất của tất cả các
người Nga”. Ngày thứ Bảy, khi hai anh em về
nhà, lớp dạy của giáo sư Bilevich đă là
đầu đề cho những bàn luận nồng
nhiệt. “Ông ta hoàn toàn trở
nền thần tượng của họ”, Andrei đă
kể lại trong tập hồi kư của ḿnh.
Trường
nội trú Chermak nổi tiếng v́ đă ban cho học sinh
một sự hiểu biết hạng nhất về
văn chương. Thư viện rộng lớn với
đủ loại sách. Fyodor rất thích thú theo điều
này. Chàng tuổi trẻ đă hoàn toàn biến thành kẻ
mơ mộng say mê, t́m kiếm sự cô đơn và tự
ch́m đắm trong thế giới tưởng
tượng riêng. Nhà văn đọc tất cả và ghi
nhớ tất cả; điều này không chỉ v́ ṭ ṃ mà
c̣n v́ mối say mê văn chương dữ dội làm cho
nẩy sinh ra.
Tại
trường Chermak, ngoài Mikhai, Dostoievski không có lấy
một người bạn.
“Một cậu bé nghiêm trang và
đầy nghĩ ngợi, mái tóc màu hung, khuôn mặt xanh
lướt”, một bạn học diễn tả Dostoievski
như vậy.
Con
người từng được cha mẹ gọi là “cậu nhỏ điên
đảo” hoang dă sôi động, bấy giờ trở
nên buồn tẻ. Sự rực lửa trước kia
đă được chuyển hẳn vào nỗi đam mê
sách vở. Chẳng bất cứ ai có thể khiến
Dostoievski cảm nghe ḥa hợp.
[“Trong
lớp, tên tôi luôn luôn đứng đầu hạng”, Dostoievski viết
trong Tuổi Trẻ Trinh Nguyên (1874), “nhưng tôi không có khả năng giăi bày tâm sự
với bất cứ ai trong số bạn học.”
Nhân vật chính của tác phẩm này kể lại
rằng, trong đời sống học đường,
chàng không muốn liên hệ với các bạn trỗi
bật hơn ḿnh về phương diện khoa học,
sức mạnh thân thể hay sự ứng đối mau
lẹ. Chàng không ghét họ và cũng không mong cho họ
bị thương tổn. Chàng chỉ đơn
giản quay mặt đi nơi khác mỗi khi có dịp
phải gần gũi họ.
Nhà
văn cũng nói về Alyosha trong tác phẩm Anh Em Nhà
Karamazov: “Chàng có khuynh
hướng tự biến mất trong nghĩ ngợi.”]
Một
bạn học tại Chermak củng cố thêm nền
tảng cho bản tiểu sử của nhà văn như
sau:
“Fyodor tỏ ra không thích thú
lắm với các tṛ chơi của chúng tôi. Vào giờ
nghỉ, hiếm khi thấy anh rời quyển sách;
nếu có phải làm điều ấy th́ chỉ là
để nói chuyện với một trong những học sinh lớn nhất trong
số chúng tôi.”
Thêm lời kể
của một người bạn yếu đuối cùng
sống trong khu bệnh viện và giao thiệp với anh em
Fyodor những năm trong trường Chermak:
“Ngày đầu đến trường,
tâm trạng tôi ứ đầy tuyệt vọng khi
bỗng dưng thấy ḿnh bị rút ra khỏi gia đ́nh để gia nhập vào
một môi trường toàn những khuôn mặt lạ.
Trong giờ chơi, tôi nghe tiếng gọi quen thuộc
giữa đám trẻ đông đảo. Đó là Fyodor
Dostoievski, khi nhận ra tôi, lập tức t́m đến
cạnh bên, xua đuổi những học sinh đang vây
quanh nhạo báng tôi. Sau đó, anh thường xuyên t́m
đến sau giờ học, chỉ dẫn tôi bài vở và
xoa dịu nỗi buồn cho tôi bằng những câu
chuyện vui thú của anh.”
Những dẫn
chứng trên đă soi sáng hai phương diện nổi
bật trong cá chất Dostoievski: “Sự trung kiên độc lập và ước
muốn đích thân can thiệp chống lại những
bất công nh́n thấy chung quanh.”
*
* *
Thập
niên 1830 là thời kỳ mang nhiều phản ứng trên
địa hạt văn hóa của nước Nga.
Cuộc lật đổ của nhóm Décembristes –tuy chóng
thất bại- đă du triều đ́nh Nicholas I vào nỗi
ám ảnh sợ hăi. Một chế độ kiểm soát
chặt chẽ trên từng lời nói vây bủa khắp các
tầng lớp dân chúng. Một số sách xuất bản
tự do bị cấm chỉ. Nhà triết học Chadaayev
bị tuyên bố mất trí. Nhà phê b́nh Nadezhin, người
đă phát hành những bản văn nói lên ư tưởng
báng bổ sự lạc hậu vô vọng của
nước Nga, khi ấy bị lưu đày.
Các
nhà văn cũng chịu chung số phận đau khổ
theo vận số không may của toàn nước Nga thời
kỳ này: Púshkin bị cô lập giữa triều đ́nh
(và năm 1837 bị giết chết trong một cuộc
đấu súng). Lermontov bị buộc phải đổi
tới vùng đất Caucase. Gogol suy nhược thần
kinh và biến mất khỏi nước Nga trong các chuyến
lưu vong ngoại quốc.
Thập
niên 1830 cũng lại là thời kỳ phong phú, sinh sản
được nhiều trái quả tốt trong văn chương
Nga và đặt nền tảng cho những sáng kiến
mới trong tiểu thuyết văn xuôi sẽ đến
trong thập niên kế tiếp.
Púshkin
viết những tác phẩm hàng đầu như Con
Đầm Bích, Con Gái Ngài Đại Úy. Lermon -tov với Con
Người Của Thời Đại Hôm Nay. Gogol gây
một mối xúc động mạnh trong sự chọc
thủng nền văn chương cổ điển
với tuyển tập Những Buổi Tối Trong Trang
Trại Gần Dikaka, tiếp liền sau đó là sự
phô bày tàn nhẫn về giới quan lại suy đồi
trong Viên Tổng Thanh Tra. Ngoài ra, Gogol c̣n vẽ thêm
những bức chân dung kỳ diệu về cảnh
sống của giới người hèn kém trong tập Những
Chuyện Kể St. Pétersbourg và Những Linh Hồn
Chết. Nhiều tác phẩm của tác giả ngoại
quốc cũng được phiên dịch sang Nga ngữ
trên các báo định kỳ: Honoré de Balzac, Victor Hugo, George
Sand, Paul de Kock và Frédéric de Soulié.
Tại
trường nội trú, say mê đọc tất cả
những tác phẩm này, một chân trời huyễn
mộng đă mở ra trước mắt Dostoievski. Cái
thực tại buồn bă được nhà văn chôn vùi
trong chữ nghĩa, trong những giấc mộng cô
đơn và trong các cuộc tâm sự với
người anh mà ông vô cùng yêu quí.
Thế
rồi, cùng với Mikhail, Dostoievski cũng bắt
đầu xây dựng cho ḿnh một thế giới riêng.
Dự tính đầu tiên là về một “tiểu thuyết rút từ cuộc sống ở
Venice.” Trong khi Mikhail âm thầm sáng các vần thơ,
Fyodor lại lần lượt mơ màng chính ḿnh trong vai
tṛ các nhân vật thời Trung Cổ. Trên sự
tưởng tượng, Fyodor không ngớt vẽ h́nh các
thành phố Venice, Constantinople và phương Đông
huyền bí nhiều màu sắc. Mầm yêu thích văn
chương mà ông bà bác sĩ Dostoievski từng cấy
trồng trong con cái, bấy giờ đă bắt đầu
thấy trái quả nẩy sinh.
IX.
Thời
gian này, sức khỏe bác sĩ Dostoievski khởi sự
xuống dốc, nhưng ông không ngừng lo nghĩ theo
tương lai con cái. Ông sợ các con sẽ phải kết
thúc cuộc đời như những kẻ hành khất.
Lúc nào ông cũng bảo với họ rằng ông là một
người nghèo, và họ phải tự lo liệu sửa
soạn cho chính cuộc đời họ về sau.
Những
năm cuối cùng của anh em Dostoievski trong Moscow nhuốm
màu đen tối bởi sự đau yếu của
người mẹ. Từ năm 1835, sau khi sanh
người con cuối cùng, bệnh lao phổi thật
sự hoành hành trên cơ thể bà. Mùa thu 1836, bà kiệt
sức hẳn đến không thể rời pḥng hay ngay
cả tự cầm lược chải đầu.
[Trong
một bản hồi kư cảm động, Andrei viết: “Đây là thời gian buồn bă
nhất trong thời thơ ấu của chúng tôi. Chúng tôi
sắp phải mất đi người mẹ thân yêu trên
từng giây phút. Cha trở nên hoàn toàn suy sụp (...) Luôn
luôn, mẹ buộc chúng tôi phải hé mở cánh cửa
để bà có thể nghe tiếng chồng
con trong những đêm đọc sách. Những ngày cuối
tuần, bà xin hai anh Mikhail và Fyodor đọc cho nghe
những tác phẩm của Púshkin và Schiller. Cho đến
ngày cuối đời, bà vẫn muốn dự phần trong mọi
chuyện của gia đ́nh.”]
Nhưng
không chỉ sự đau yếu của bà mẹ làm rối
loạn đời sống gia đ́nh thôi, lại c̣n cái
quyết định về tương lai đám trẻ
đă là nỗi đe dọa nội tâm anh em Dostoievski
nhiều nhất. Bác sĩ biết rằng hai người
con trai lớn đă nuôi chắc hy vọng được
tiếp tục theo học đại học. Nhưng
với ông, một nền giáo dục đại học
sẽ chỉ cung ứng cho con ông kiến thức chứ
không phải nghề nghiệp. Ông muốn cuộc
đời các con sẽ được bảo đảm
vật chất hơn trong những địa hạt
thuộc chính phủ. V́ thế, mùa thu 1836, dựa vào chức
vụ riêng, bác sĩ nạp đơn lên Hoàng Đế xin
cho hai con lớn được thừa nhận vào
trường Kỹ Sư Công Binh ở St. Pétersbourg,
trực thuộc nhà nước và do chính phủ đài
thọ mọi khoản phí tổn. Làm điều này, bác
sĩ nhắm vào lợi điểm: Sau khi tốt
nghiệp, sinh viên sẽ được bảo đảm
một cuộc sống chắc chắn. Vả chăng, vào
thời ấy, khi Hoàng đế Nicholas I lưu tâm
đến việc củng cố quanh ông một chế
độ chuyên quyền th́ điều khôn ngoan nhất là
trở thành những kỹ sư quân đội. Thêm
nữa, tại một nơi như trường Kỹ
Sư Công Binh, bác sĩ yên tâm hơn trong việc giữ con
xa khỏi tư tưởng nổi loạn âm ỉ lúc
bấy giờ đă trở thành luồng sóng cuốn hút
sinh viên tại các trường đại học.
Nhưng
với anh em Dostoievski, quyết định của cha đă
tạo nên một cú xúc động lớn. Cả hai
đều muốn trở thành nhà văn! Đặc
biệt với Fyodor, mọi khát vọng âm thầm dành
nghĩ về con đường văn chương
dường như đang bị phá nát. Tất cả
đều phải dẹp hết trước ư muốn
sắt đá của người cha, nhất là khi lá
đơn gửi lên Hoàng Đế đă được
chấp nhận.
[“Anh tôi và tôi được đem
đi St. Pétersbourg để theo học trường Kỹ
Sư Cơ Khí. Một tương lai ước mơ rơ
ràng đă bị tàn hủy”, Dostoievski đă viết, ba
mươi hai năm sau.
Duy
chỉ một lời phát biểu trực tiếp (thời
gian bác sĩ c̣n sống) là nói lên lẫn lộn giữa ḷng
thương dành cho cha và nỗi bất măn âm thầm trong
tâm hồn Dostoievski: “Thật
tội nghiệp cha đáng thương của chúng ta.
Quả là con người kỳ lạ! Cha đă cưu mang
biết bao bất hạnh. Em muốn khóc khi nghĩ
đến những cay đắng của cha mà chẳng
điều ǵ có thể an ủi nổi ông. Nhưng anh
ạ, Papa không biết ǵ về thế giới bên ngoài. Ông
đă sống trong đời 50 năm nhưng lúc nào
cũng chỉ mang trong đầu các ư nghĩ cổ hủ
có từ ba mươi năm trước. Thật là
một sự ngờ nghệch đầy hạnh phúc! Dường như ông không chút nào
thấm cảm điều ấy, nhưng đó lại là
nguyên nhân cho số phận khổ sở của chúng ta.”
Những
lời trên được viết ra trong một lá thư
gửi Mikhail năm 1837, ngay sau cái chết của bà mẹ,
điều đă làm rút đi gần hết năng lực
chống đỡ của bác sĩ Dostoievski.]
X.
Tháng
2/1837, bà Marya Netchayeva Dostoievski qua đời. Cái chết
của người mẹ mang cùng ư nghĩa “phân tán gia
đ́nh”.
[Về
sau, trong văn chương, Dostoievski làm sống dậy h́nh
ảnh mẹ qua các nhân vật Aleksandra Mikhailovna trong Netochka
Nezvanova; bà mẹ của Arkady trong Tuổi Trẻ Trinh
Nguyên; và bà mẹ của Alyosha trong Anh Em Nhà Karamazov.]
Cũng
thời gian đám tang mẹ, tin chết của Púshkin trong
cuộc đấu súng ngày 27/1/1837 lại là biến
cố đau ḷng thứ hai cho anh em Dostoievski. Điều
này rơ ràng tác động tâm năo Fyodor. Nhà văn đă nói
với anh: “Nếu trong gia
đ́nh không có tang của mẹ, hẳn là em sẽ xin phép
cha để tang cho Púshkin.”
Năm
1837, tất cả xem ra đều mất hết!
Những
năm tại Moscow của Dostoievski chấm dứt trong
buồn bă, nhưng điều ấy không có nghĩa
rằng ông trải qua thời kỳ ấu thơ ảm
đạm. “Tôi không bao giờ
quên t́nh thương của cha mẹ đă cho khi tôi c̣n bé”, ông viết lúc gần cuối
đời.
[Trong
nhiều tác phẩm, Dostoievski thường vẽ h́nh
cuộc sống đau khổ của trẻ em; nhưng
phải lưu ư rằng, với cuộc sống riêng ông
thời tuổi nhỏ chưa hẳn là như thế.
Sự liên hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đ́nh
Dostoievski được ràng buộc bằng một sợi
dây t́nh cảm tốt. Quả thật bác sĩ là
người có một cá chất đa nghi, khó chịu, luôn
bị dày ṿ lo lắng bởi tiền bạc. Nhưng
người ta phải tự hỏi Fyodor Dostoievski sẽ
ra sao nếu không từng có được một
người cha nhiều nghị lực, giỏi xoay sở
và cố ḷng đặt trên con ḿnh nhiều hoài băo?
Thời
thơ ấu, Dostoievski sống trong t́nh thương vô biên
của cha mẹ, t́nh bạn với các anh chị em; những mùa nghỉ hè ở
Darovoye, những giáo đường và tu viện giữ vai
tṛ trọng yếu trong đời sống tín ngưỡng
của gia đ́nh, và, có lẽ nhiều hơn hết
là những quyển sách ông từng được
đọc.
Chính
cha mẹ Dostoievski đă nhen nhúm trong ông một t́nh yêu sâu xa
cho văn chương, sôi nổi và hoàn hảo đến
độ đời sống kỷ luật và sự rèn
luyện khắc kỷ của trường Kỹ Sư
Công Binh về sau cũng không làm tiêu diệt
được.
Những
điều như thế đă nói lên rằng, Dostoievski có
được một tuổi thơ dễ chịu may
mắn hơn so với nhiều văn thi sĩ (Nga và
thế giới) đi trước, hoặc cùng thời
với ông --như Lermontov, John Keats, Edgar Poe..v.v.]
[]
(1) André Gide, nhà văn Pháp (1869-1951).
(2) William Shakespear, kịch tác gia vĩ đại người Anh (1564-1616).
(3) Ngày nay nó được dùng làm cơ sở nghiên cứu bệnh lao phổi. Hai ṭa nhà khác của bệnh viện cũng được bảo tŕ. Ṭa nhà bên trái nh́n vào từ đường phố bây giờ là viện bảo tàng Dostoievski.
(4)
Anna Grigoyevna, người vợ thứ hai của nhà
văn, về sau kể lại: “Fyodor Mikhailovich hay
gợi nhắc thời thơ ấu êm đềm và nói
rất nồng nhiệt về bà mẹ –người
thường gọi chàng là ‘cậu nhỏ Fedya điên
đảo’. Chàng đặc biệt yêu thương anh
Mikhail và Varenka. C̣n những người em khác không lưu
lại bao nhiêu cảm nghĩ sâu đậm trong ḷng chàng.”
(5) Sự tương phản rơ rệt trong tính t́nh giữa cha và mẹ sẽ được t́m thấy đầy trong các tác phẩm về sau của Dostoievski, qua đó, những nhân vật chính thường sở hữu cả hai cá chất cực độ trái ngược.
(6) Sự tŕnh bày của Goethe về cha mẹ –rằng từ cha, Goethe nhận được “khổ người, sự rành mạch và những phương cách nghiêm trang” và từ mẹ, ông thừa hưởng “tinh thần vui vẻ, yêu thích các câu chuyện kể” th́ cũng ứng dụng với Fyodor Dostoievski
(7)
Về sau, ḷng ngưỡng mộ của nhà văn
đối với loại hài kịch này được phô
bày rơ rệt qua bức tranh miêu tả t́nh yêu của
người tù cho sân khấu ca kịch trong tác phẩm Căn
Nhà Của Thần Chết.
(8)
Ann Radcliffe, nữ văn sĩ Anh (1764-1823), sống cùng thời
với Coleridge và cuộc cách mạng 1789 ở Pháp, bà là tác
giả những tập truyện kinh dị như le Roman
de la Forêt, les Mystères d’Udolpho; l’Italien ou le Confessional des pénitents
noirs…
(9) Miguel de Cervantès, nhà văn Tây Ban Nha
(1574-1616), tác giả của la Galatea à Don Quichotte
rất nổi tiếng…
(10) Sir Walter Scott, nhà văn Tô Cách Lan (1771-1832).