Trần Thị Bông Giấy

(Kiến Thức Văn
Chương)
Tại Pháp, không h́nh thức văn chương nào
lại bị công kích tàn nhẫn như loại văn phê
b́nh. Những nhà phê b́nh Pháp thường được
đưa lên bàn mổ bằng luận điệu
đầy khinh bỉ, cũng giống như các nhà phê b́nh
Anh và Mỹ đă bị. Sartre từng gọi những nhà
phê b́nh là "người canh giữ nghĩa địa." Thế nhưng, công việc phê b́nh th́ rất cần
thiết trong sự t́m đạt tới mục đích
của văn chương. Ở Pháp, hai thập niên
đầu tiên của thế kỷ 20 là thời kỳ
nẩy sinh ra những nhà phê b́nh sáng chói: Péguy, Valéry, Claudel và
Gide. Ngoài những tác phẩm bậc thầy, bốn văn
thi sĩ này c̣n đóng góp thêm vào nền văn học Pháp
những tiểu luận phê b́nh quan trọng. Các tác phẩm
của Corneille và Hugo được Péguy định giá và
diễn dịch lại trong tập Victor-Marie, Comte Hugo (1910). Valéry, trong nhiều trường hợp, tự phân tích
nguồn gốc các bài thơ và nghệ thuật thi ca
của chính ḿnh. André Gide, trong những tiểu luận (Incidences, 1924; và Interviews
Imaginaires, 1942) và trong tập Nhật Kư, đă đặt đích nhắm, hướng vào
thị hiếu văn chương của hai thế
hệ. Phần Claudel, cuốn Art Poétique (1907) lại là một bản tuyên ngôn
đặc biệt, thêm những tiểu luận ông
viết về Baudelaire và Mallarmé càng đáng lưu ư hơn (Positions et Propositions, 1928 và 1934).
Kể từ thế chiến II, các tiểu luận và
các bài tường thuật của những nhà phê b́nh chuyên
nghiệp nổi danh như Maurice Blanchot, André Rousseaux, Thierry
Maulnier, Gaetan Picon, Claude Roy, Maurice Nadeau, Robert Kanters lần
lượt xuất hiện trên các tuần báo văn
chương và các tạp chí định kỳ. Một
điều đáng nói là từ những bài viết của
họ mà cái truyền thống bút chiến văn
chương hiển nhiên không c̣n nữa. Những tranh căi
dữ dội của thời trước giữa phái Cổ Điển
(Classicism) và phái Lăng Mạn (Romantism), hay giữa phái Lăng Mạn với phái Biểu
Tượng (Symbolism) hầu như biến
mất cả. Trên lối vào văn chương, những
nhà phê b́nh mới này không lưu tâm bàn căi tới cách diễn
đạt, thai nghén một tác phẩm nghệ thuật, mà
chỉ chú trọng đến cái mục đích của nhà
văn trong việc nhắm thẳng vào đời sống
con người. Dẫu vẫn biểu lộ sự thích
thú về kỹ thuật, nhưng trọng điểm
thật sự của hầu hết giới phê b́nh văn
chương Pháp ngày nay là muốn tiến gần
đến các vấn đề thuộc đạo
đức và xă hội. Ngay cả vài trong những tác
phẩm hiện đại nổi tiếng nhất (La Condition Humaine của Malraux và La Peste của Albert Camus)
cũng rơ ràng là những luận án đạo đức,
trong đó tác giả không che giấu một cách quá thận
trọng cái chủ đích của ḿnh.
Giới phê b́nh văn chương bắt đầu
trong nước Pháp với các bài viết của Madame de
Stael và Chateaubriand đầu thế kỷ 19. Bấy
giờ, hai nhà phê b́nh này không c̣n dùng phương pháp phân tích
tâm lư và đặt để tầm quan trọng trên
mẫu mực của một sự tự khảo sát theo
kiểu đào tạo của Cơ Đốc giáo thời
kỳ trước, mà trong các bài viết, sự phê b́nh
được dùng như một phương tiện
để hiểu biết và giải thích về các nhà
văn. Những t́m ṭi uyên bác trong văn chương
được khai sinh và đón nhận. Các lớp dạy
phê b́nh được thành lập trong các đại
học đường không bao lâu sau khi các bài viết
của Madame de Stael và Chateaubriand xuất hiện, mục
đích cố gắng tiếp nối và đào sâu các tác
phẩm tiền phong của họ trên một chiều hướng
khoa học nhiều hệ thống chính xác hơn.
*/ Sainte-Beuve
(1804-1869) trên nhiều mặt đă
được thừa nhận là người sáng lập
thực sự giới phê b́nh văn chương hiện
đại ở Pháp. Ông vốn là thi sĩ, tiểu
thuyết gia và chủ yếu hơn, một nhà phê b́nh văn
chương mà cái hướng nhắm được chú
trọng vào sự t́m hiểu và phân tích cá nhân những
văn thi sĩ trong nhiều thời đại. Phương
pháp của ông là kết hợp khoa học thực
nghiệm với cái khả năng diễn giải
ngoại thường trong ông. Ở mỗi bài tiểu
luận, Sainte-Beuve giải thích một khí chất cá nhân
riêng biệt. Ngày nay, những bài phê b́nh của ông
được đánh giá là những xét đoán đầu
tiên trên con người trong lịch sử văn học Âu
Châu. Ngoài ra, không chỉ cá nhân từng mỗi nhà văn,
Sainte Beuve c̣n đề cập đến những tư
tưởng triết học và luật lệ nói chung. Ông
gọi những tiểu luận của ông là "một
tiến tŕnh đạo đức tâm lư." Phương pháp của ông, như đă tŕnh bày trong
tập Les Lundis, tương phản với
phương pháp khoa học có hệ thống chính xác
của thời Madame de Stael hay Chateau- briand. Tập Port-Royal
chủ yếu là một bài nghiên cứu nổi tiếng
về một trong những mặt sinh hoạt của xă
hội Pháp thế kỷ 17.
*/ Vào cuối thế kỷ 19, giới phê
b́nh văn chương Pháp (có Taine và Brunetière là đại diện) tiến
triển theo chiều hướng đối nghịch cá
nhân với những nhà văn và diễn giả thuộc
phái Ấn Tượng (Impression- ism) như Jules Lemaitre, Anatole
France và Rémy de Gourmont. Nhưng để
phản đối cả hai phái này, một nhóm do Gustave Lanson
(1857-1934) dẫn đầu, đứng ra
thành h́nh phương pháp phê b́nh dựa trên khoa học
về lịch sử văn chương, đặt
nền tảng trên sự t́m ṭi những sự kiện có
thể xác minh. Những đồ đệ cực đoan
của Lanson và các nhà phê b́nh cực đoan phái Ấn
Tượng vẫn tiếp tục xúc tiến những bài
bút chiến dữ dội trên h́nh thức phê b́nh. Tuy nhiên,
những nhà viết tiểu luận văn chương
nổi tiếng những thập niên kế tiếp trong
thế kỷ 20 đă chẳng bị ảnh hưởng
bởi các nhà sử học hay các nhà phê b́nh phái Ấn Tượng nói trên, mà chính là vào một truyền thống Pháp lâu
đời hơn, trong đó Sainte-Beuve chiếm giữ vai tṛ chính yếu. Đó là
truyền thống của các nhà phê b́nh thuộc chủ
nghĩa luân lư, những người thích thú trong sự vói tới
các tư tưởng chung, sự khao khát những
điều nghịch lư hay tương đồng trong
văn chương, sự say mê âm điệu, say mê
chiều hướng hay chủ đề của một
tác phẩm giá trị. Các bài viết của các nhà phê b́nh này
có thể được xếp loại như
"những tiểu luận văn chương."
*/ Sự khai triển của thể loại
tiểu luận văn chương này được giúp
đỡ và che chở bởi tờ tạp chí định
kỳ quan trọng, La Nouvelle Revue Francaise, thành
lập năm 1909, dưới sự chủ xướng
của André Gide, Jacques Copeau và Jean Schlum- berger. Trong
tờ này, Jacques Rivière nắm vai chủ bút từ 1910-1925,
và Jean
Paulhan từ 1925-1940.
Đ́nh bản trong khoảng hai thời kỳ Thế
Chiến, nó bắt đầu lại trong năm 1945,
đổi tên là La Nouvelle Nouvelle Revue Francaise. Trong
những năm đầu tiên mới xuất hiện, nó
thường xuyên đăng những tiểu luận
của Claudel, Gide, Valéry, Péguy, Proust và luôn
luôn duy tŕ được mức độ văn
chương cao nhất ở Pháp. Dù rằng không sáng
lập bất cứ trường phái văn chương
nào, nhưng ngay khởi đầu, tờ La Nouvelle Revue
Francaise cho thấy hơi có khuynh hướng
đối lập với phái Biểu Tượng
(Symbolism) và suốt trong hai thập niên 20 và 30
cũng đă dành những t́nh cảm đẹp cho phái Siêu Hiện
Thực (Surrealism).
Dần dần, tờ báo khiến nẩy sinh thêm một
"tập
thể thợ in văn chương" và
thành lập một nhà xuất bản quan trọng, ngày nay
được biết dưới cái tên Gallimard, nhà xuất bản chính thức của những
người góp phần trong La Nouvelle Revue Francaise. Cũng trong hai thập niên 20-40, nhà Gallimard khai triển
được một nhăn hiệu riêng, đóng mọt vai
quan trọng trong việc khám phá cho nước Pháp những
tác phẩm của các nhà văn ngoại quốc như
Chekhov, Conrad, Joyce, Pirandello. Những tiểu luận của
chính chủ bút Jacques Rivière được gom góp, in thành
tập dưới cái tựa Études (1912), làm rạng danh kiểu mẫu những tiểu luận
được ưa chuộng bởi cả nhóm.
Để phù hợp với sự khẳng định
trên vài đặc điểm của loại tiểu
luận văn chương tại Pháp, trong bài viết này
sẽ không đề cập đến những kiểu
phê b́nh không chủ yếu thuộc văn chương. Ví
dụ, bài phê b́nh của các nhà văn, đồng thời
cũng là triết gia hay lư thuyết gia như Bergson, Gabriel
Marcel, Gaston Bachelard, Merleau-Ponty, Emmanuel Mounier, Jacques Maritain,
Denis de Rougemont, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Georges Bataille,
Jean Wahl. Chúng ta cũng bỏ qua các bài viết của các nhà
văn sử thuần túy: Guy Michaud, René Jasinski, Jean Pommier,
Armand Hoog.
*
* *
*/ Julien BENDA
(1867-1956) đă tiến hành trong lịch sử
văn chương Pháp một đời dài chiến
đấu cho mục đích của chủ nghĩa Duy Lư
(Rationalism). Cuộc vận động đầu tiên
của ông là trực tiếp chống lại Bergson,
triết gia Pháp (1859-1941).
Qua bài viết cay độc tựa đề Le Bergsonisme ou une
Philosophie de la Mobilite, (1912), Benda đổ lỗi
rằng do bởi ảnh hưởng của Bergson và
chủ nghĩa chống lại thuyết duy lư
(anti-intellectualism) do Bergson đặt ra mà độc giả
hiện đại lây nhiễm cái tính bị kích
động bởi các tác phẩm văn chương hơn
là hiểu rơ chúng. Trong quyển sách nổi tiếng nhất
của Benda, La Trahison des Clercs (1927), chữ "clerc" (nhà
thông thái) được Benda dùng như
một từ đồng nghĩa với "người
suy tưởng", qua đó, ông khai
triển những chính đề mà "các nhà thông thái"
hiện đại đă phản bội lại sứ
mạng chiến đấu cho công lư và sự thật ông từng
đeo đuổi nhiều năm.
Trong La France Byzantine (1945), Benda sắp xếp
một hệ thống tấn công đầy đủ trên
nhiều nhà văn dẫn đầu thời ấy. Ông
đặc biệt phản đối Gide, Valéry, Proust và
Giraudoux, những người -với ông- là đại
diện cho kẻ thù chính của truyền thống văn
chương Pháp hợp lư và rơ ràng. Ông nh́n họ như
những nhà văn đối nghịch lại với
nền văn minh của thế kỷ 20. Benda phàn nàn: "Văn
chương hiện đại th́ trống rỗng về
tư tưởng và thiếu vắng lư lẽ chính đáng.
Nó tránh né diễn tả tư tưởng trong sáng bởi
v́ muốn lưu giữ các giấc mơ. Đó là loại
văn chương đặt để giá trị trên
sự diễn tả nhiều hơn trên cái điều nó
diễn tả". Những tĩnh từ
ông thường sử dụng là "tối tăm",
"kiểu cách", "lắm tṛ" đă
làm giảm đi phần nào giá trị của bài viết.
*/ Khoảng thời gian 1909-1933, Alain (Emile CHARTIER,
1868-1951) dạy triết tại Lycée Henri IV,
Paris. Nhiều vị trong số các học tṛ ông bị
ảnh hưởng sâu đậm bởi ông, trở thành
nhà văn nổi tiếng, giáo sư, hay người
cầm quyền cai trị trong chính quyền Pháp. Mỗi bài
tiểu luận của Alain thường kéo dài một
trang, luôn luôn bắt đầu bằng một chi tiết
tưởng chừng như vô nghĩa, nhưng sau đó
được khai triển bên trong một đại
cương quan trọng. Các tiểu luận ngắn này
thường được ông gọi là "câu chuyện
nhỏ."
Qua bộ sưu tập "các câu chuyện nhỏ" với những đề tài không liên hệ ǵ nhau và
từ hai bài nghiên cứu trên Stendhal và Balzac, sự ngờ
vực của Alain theo các triết gia chuyên nghiệp th́ rơ
ràng mạch lạc cũng bằng như sự biệt
đăi ông dành cho các nhà văn và thi sĩ.
Học thuyết của ông đặt nền tảng
trên "nghệ thuật vị nghệ thuật",
như Valéry và Parnassian (một trường phái nhà thơ
Pháp ở thế kỷ 19) đă chủ trương. Với ông, nghệ
thuật thoạt khai sinh từ cảm xúc và đam mê,
nhưng được un đúc và cấu thành bởi
tư tưởng và công lao khó nhọc.
Alain là một nhà luân lư theo chủ nghĩa duy thực,
đă ước lượng được sự
giới hạn của đầu óc con người. Trong
tôn giáo, ông biểu tỏ nên là một kẻ hoài nghi; trong
chính trị, một người theo chủ nghĩa ḥa b́nh;
và trong văn chương lại là một nhà thẩm
mỹ học.
Những năm về sau, học thuyết của Alain
đă được kế tục bởi những bậc
thầy mới như Malraux và Sartre.
Với giới độc giả trẻ ở Pháp,
kiến thức của Alain được nh́n nhận
như một sự vượt quá, nhưng tính lạc quan
của ông lại bị xem như vô lư trong một thế
giới đang xuất hiện quá nhiều những nhà
tư tưởng với những ư nghĩ đang đi
đến gần mép bờ thảm họa, tai ương.
*/ Bergson gọi
Albert THIBAUDET (1874-1936) là nhà phê b́nh số
một kể từ sau Saite-Beuve. Ngay bước
đầu nghề nghiệp, Thibaudet đă tỏ ra là
một người ngưỡng mộ các tư
tưởng của Bergson. Trong 20 năm kế tiếp,
Thibaudet nắm vai tṛ là một trong những tay viết phê
b́nh văn chương chính yếu của tờ La Nouvelle Revue
Francaise. Ông được huấn luyện
thành một nhà sử học, một nhà xă hội học và
một nhà địa lư học. Phương pháp phê b́nh
của ông thuộc truyền thống Sainte-Beuve, gồm
những kư sự hay tiểu luận được
viết ra trong sự phối hợp giữa chủ
thuyết ấn tượng và những hiểu biết
uyên bác riêng ông. Ông có khuynh hướng phân loại các nhà
văn theo từng lănh vực và thế hệ. Ông cũng
giải thích các tác phẩm văn chương theo một
quan điểm tổng hợp và bởi cái công dụng
thông thường của phép suy loại (analogy). Tác phẩm tiền phong của ông viết về
Mallarmé, La Poésie de Stéphane Mallarmé (1912),
đă không hề bị lỗi thời, bất chấp
số lượng rộng lớn những sách viết
về Mallarmé chào đời sau đó. Một quyển khác, Gustave Flaubert (1922) vẫn là một trong những cuốn nghiên cứu hay
nhất về nhà tiểu thuyết lừng danh này.
Trong Réflexions sur le Roman (1938), có vài lư thuyết và quan
điểm của Thibaudet được độc
giả cảm thụ sâu sắc. Sự khích động trí
ṭ ṃ của độc giả trong quyển Histoire de la Litérature
Francaise Depuis 1789 (1936) cho thấy sự
vượt trội hơn so với một quyển thông
thường viết về lịch sử văn
chương.
*/ Charles DU BOS
(1883-1939) là kiểu mẫu phê b́nh mà toàn
thể cuộc đời ông hợp nhất với
những quyển sách đă đọc và các tiểu
luận viết về những tác giả ông ưa thích. Ông
không tŕnh bày một học thuyết đặc biệt nào.
Ông yêu văn chương với một đam mê vĩnh
cửu, bỏ suốt cuộc đời để
đọc không ngừng những tác giả ông ưa thích
cho đến khi đạt tới sự thấm nhuần
hiểu biết về tác phẩm họ. Bởi ư nghĩa
của cách đọc sách đặc biệt ân cần này
mà Du Bos có khả năng để lănh hội và dẫn
giải mọi ngơ ngách trong các sáng tác văn chương.
Rất sớm, xuyên qua hai phần đầu đă
đọc, năm 1921, Du Bos đă đoán biết toàn
thể dàn bài sẽ được Marcel Proust viết ra
trong bộ tiểu thuyết À la Recherche du Temps Perdu về sau.
Bảy tập trong bộ tiểu luận của Du Bos
đă xuất hiện dưới cái tựa khiêm
nhường: Approximations (1932-39) (Những phỏng chừng). Trong chỉ một trường hợp duy nhất Du
Bos mới tấn công một nhà văn. Ông là bạn thân
của André Gide nhưng ông tiến hành một cuộc tranh
căi về luân lư với Gide trong bài Dialogue avec André Gide (1927). Trong tập Nhật Kư -cũng hay như bộ Approximations- Du Bos
tŕnh bày cho thấy t́nh cảm và sự thấu hiểu ông
dành cho những tác giả ông ưa thích: Amiel, Constant,
Baudelaire, Keats, Shelley, Tolstoi, Chekhov. Trong mỗi tiểu
luận đều có phơi tỏ sự đồng
cảm của ông riêng biệt với từng tác giả.
Đọc sách là
một sự trau giồi tâm hồn, Du Bos
luôn nhận định như vậy. Và cuộc
đời được ông nh́n suốt qua lăng kính
của các tác giả mà ông nghiền ngẫm.
*/ Cái danh xưng "nhà phê b́nh của các
nhà phê b́nh" thường
được áp dụng cho Jean PAULHAN (1884-1968), người đảm đương chức giám
đốc của La Nouvelle Revue Francaise kể từ
khi Jacques Rivière qua đời, năm 1925.
Đặc biệt bận tâm với những vấn
đề thuộc về ngôn ngữ và thi ca, Paulhan là
một nhà phê b́nh gay gắt khó chịu mà những tiểu
luận của ông được gom thành một tập, Les Fleurs de Tarbes
(1941), chính yếu tấn công vào giới văn chương
đương thời. Cái tựa bí mật phát xuất
từ một dấu hiệu đặt tại cổng vào
của một công viên ở Tarbes, nói rơ rằng: "Tất cả
các loại hoa đều bị cấm không được
mang vào công viên." Paulhan đă giảng
giải rơ điều này trong một bài viết.
Ông thường phàn nàn: "Các nhà văn hôm nay
đều trở thành triết gia, nhà đạo
đức và người lănh đạo tinh thần
nhiều hơn là những nhà sáng tạo cái
đẹp."
Paulhan đă đóng một vai quan trọng trong công
việc tranh đấu cho quyền tự trị của
văn chương, không để bị vướng
mắc bởi luật lệ hay luân lư thông thường.
Qua các tiểu luận, ông kiên tŕ bảo vệ và bênh
vực cho sự trong sạch của các nhà văn.
Về sau, trong bài giới thiệu nổi tiếng cho
tác phẩm Les Infortunes de la Vertu (1791) của Marquis de
Sade, Paulhan bày tỏ nỗi tôn sùng thật sự cho nhà
văn Pháp thế kỷ 18 này. Vai tṛ "nhà phê b́nh của các
nhà phê b́nh" đặc biệt được
chứng tỏ trong Petite Préface à Toute Critique, qua đó Paulhan không ngần ngại
quở trách những nhà phê b́nh trong lỗi lầm của
họ đổ xuống trên các nhà văn đương
thời. Ông nhắc đến những tác giả nổi
tiếng thế kỷ 19 từng là những nạn nhân
của giới phê b́nh Pháp: Balzac, Baudelaire, Lautréamont, Rimbaud.
*/ Với André
MALRAUX (1901-1976), sự nghiệp văn
chương trải qua một tiến tŕnh khai triển
kỳ dị và phức tạp. Trước thế
chiến II, địa vị ông được xây dựng
vững chắc như một trong những tiểu
thuyết gia hàng đầu của Pháp mà các tác phẩm mô
tả bức tranh xă hội rộng lớn, La Condition Humaine và l’Espoir đă
tŕnh bày cho thấy một thế giới bị xé nát
bởi những người gây tai ương tệ
hại nhất. Trong thế chiến II và lập tức sau
đó, danh tiếng ông tàn dần, (có lẽ ở Pháp
nhiều hơn ở Mỹ), phần lớn do từ
những quan hệ chính trị của ông với De Gaulle.
Nhưng rồi, trong năm 1948 xuất hiện bộ
hai tập Psychologie de l' Art (về sau đổi
tựa thành Les Voix du Silence). Một cách chắc
chắn, đó là một trong những quyển sách quan
trọng nhất của thời đại chúng ta.
Vượt quá khuôn khổ một tác phẩm phê b́nh
nghệ thuật hay viết về lịch sử nghệ
thuật, Malraux là nhà văn Pháp gần như duy nhất cho
thấy đă hiểu cặn kẽ gần hết mọi
nghệ thuật của các tác giả lừng danh ở Pháp
(như Diderot, Stendhal, Baudelaire, Taine, Alain, Valéry). Quyển
sách đă bắt lại cho Malraux một chỗ
đứng kính trọng cao trong tâm hồn giới trẻ.
Họ đọc nó như một bản thánh ca về t́nh
yêu đối với thế giới nghệ thuật.
Trong nghệ thuật, Malraux tin tưởng rằng
cuộc tranh đấu phải bắt đầu ngay
từ bước khởi thủy của sự sáng
tạo. Một nghệ sĩ trẻ thoạt tiên sẽ bắt
chước một bậc thầy; kế tiếp là
sẽ phản ứng chống lại bậc thầy
ấy và sau đó sẽ tự sáng tạo cho ḿnh một
kiểu thức nghệ thuật riêng.
Ông đặc biệt ưa thích những người
“cách mạng”, tỉ như Goya, Manet hay các nhà điêu
khắc Thiên Chúa giáo. Ông có khuynh hướng cảm nhận
và nhấn mạnh đến cả hai mặt xúc
động và bi thảm trong từng mỗi tác phẩm
nghệ thuật. Malraux đề cao những họa sĩ
miêu tả những khuôn mẫu thấp kém nhất của
xă hội (ví dụ Frans Hals, họa sĩ Ḥa Lan, 1583-1666, các
người mẫu của ông thường thuộc
giới b́nh dân). Trong quyển sách, Malraux cũng bàn rộng
trên chủ đề rằng chỉ họa sĩ mới
là người làm sống măi được h́nh ảnh các
vị hoàng thân hay các con người danh tiếng đă
biến mất khỏi thế gian. Ông hoàn toàn đồng ư
với Valéry khi viết: "Nguyên thủy, một họa
sĩ không phải là người yêu các bức tranh."
Psychologie de l' Art, quyển sách dài tŕnh bày
nghệ thuật tâm lư, được viết ra trong
kiểu thức phong phú, hầu hết giống cách
viết của Bossuet (1627-1704, giám mục và
cũng là nhà văn Pháp), rất đáng
được đ̣i hỏi phải có trong công việc
nghiên cứu nghệ thuật. Trong đó, nhiều vấn
đề về văn chương được đề
cập (ví dụ như đoạn diễn tả về
sự cảm xúc của khán giả khi xem vở Oedipus).
Với Malraux,
sự góp phần tham dự vào công việc sáng tạo
nghệ thuật có thể so sánh với sự lao ḿnh vào
một tai họa nào đó. Tuy
nhiên, Malraux cũng tin rằng, nghệ thuật tiết
lộ cho con người một phương cách bí mật
để chiếm hữu thế giới. Ông nh́n người nghệ
sĩ như một kẻ sáng tạo lại một
thế giới mới, hoặc sửa cho đúng, sắp
đặt lại hoàn chỉnh hơn tác phẩm của đấng
Hóa Công.
Chủ đề trong Psychologie de l' Art là sự
bảo vệ cái Đẹp và tài năng nhân loại. Trong
tập đầu tiên, Malraux đưa ra lư thuyết
rằng nghệ thuật luôn luôn làm nẩy sinh trong con
người hai niềm tin:
1/ Con người
chính là kẻ kiềm chế những bí mật của
thế giới. Trong loại nghệ
thuật như vậy, Hy Lạp và thời kỳ Phục
Hưng biểu tượng cho h́nh ảnh chiến
thắng của con người.
2/ Sự vĩ
đại của thế giới luôn luôn kềm chế và
tiêu diệt được con người. Trong trường hợp này, con
người phải sống trong sự thỏa thuận
phù hợp với những kinh hoàng tạo ra từ thiên nhiên.
Tập thứ hai của bộ Psychologie de l' Art đương đầu với một loại
nghệ thuật chứa đựng cả hai niềm tin
nói trên, thể như nghệ thuật thời Trung Cổ.
Trong loại nghệ thuật này, Malraux nghiên cứu sự
liên hệ giữa con người và thần thánh,
đặc biệt, những thể thức nghệ
thuật đó lại là đại diện cho một
sự hài ḥa giữa cả hai phía với nhau.
Cuốn thứ hai này tóm gom lại nhiều ư
tưởng của Malraux, phô bày niềm tin của riêng ông
rằng "Thiên
tài không thể tách rời khỏi những ǵ mà họ
được sinh ra, giống như lửa th́ không
thể tách rời khỏi những ǵ nó đốt
cháy."
Tuy nhiên, từ đầu đến cuối tập này,
Malraux cũng phơi tỏ cho thấy sự thù địch
của ông đối với thực tế. Ông nhấn mạnh đến tính chất
độc đáo của kỹ thuật, qua đó,
người ta có thể nghĩ ngay đến những
bản văn tố giác rất đúng kiểu thức
Malraux: Les Conquérants, La Condition Humain, L' Espoir.
Viết về nghệ thuật cũng tuyệt diệu
như viết tiểu thuyết, Malraux đưa ra
những h́nh ảnh lâm ly và cả những thảm họa
làm xúc cảm được người đọc. Trong
cả hai tập, có nhiều chi tiết đáng kể
được tŕnh bày ra trong h́nh thức những tiểu
luận cô đọng. Ví dụ đoạn nói về
bức tranh "Chúa Jésus đang đuổi những người cho
vay lăi ra khỏi đền thánh" của Goya; những
trang về Giotto; đoạn xác định về "kiểu
thức" mà Malraux nhận xét như một sự rập khuôn
lại thế giới bằng những giá trị của
nghệ sĩ đă sáng chế ra nó; đoạn nói về sự
phân biệt giữa một nghệ sĩ và một thợ
thủ công, (một nghệ sĩ như Rubens hay
Cézanne sáng tạo kiểu thức; một thợ thủ
công chỉ là người mô phỏng lại kiểu
thức ấy); những đoạn về sự quan hệ
giữa nghệ sĩ và thế giới sự vật (ví dụ Tintoretto vẽ những người thợ
lặn Venetian trong vai tṛ các thiên thần).
Trong Psychologie de l' Art, đề cập đến nghệ
thuật nhiều thời đại, Malraux cho thấy
một sự hiểu biết ngoại thường
của riêng ông về con người và định mệnh
những thiên tài nhân loại. Bằng giọng văn
mạnh mẽ, ông thuyết phục độc giả
rằng: "Một sáng tác nghệ thuật là một bằng
cớ rơ rệt chứng minh cho sự bí mật của
cuộc sống chúng ta".
Tài hùng biện đầy khí lực, làm rung động
độc giả của ông, biểu lộ rơ rệt
nhất trong những đoạn tŕnh bày sự liên hệ
giữa con người và thần thánh. Một ư
tưởng được ông nhắc đi nhắc
lại măi là "Nghệ thuật không bắt chước cuộc
đời, mà chính là nó đă khám phá ra cuộc
đời". Với ông, nghệ sĩ là những
người đem lại cho nghệ thuật sự
bất tử qua các sáng tác của họ. Hoặc nếu không đạt đúng được sự
bất tử th́ ít nhất, cái hơi hướm bất
tử sẽ vẫn phảng phất trong những sáng tác
nghệ thuật.
Rơ ràng tính bất diệt và tư tưởng về cái
chết cứ măi ám ảnh Malraux. Ông đă viết: "Con
người là một con vật biết rằng nó sẽ
phải chết." Nhưng ông cũng cho rằng, chỉ nghệ thuật,
giống như một sự tái tạo thế giới,
mới có thể cung cấp cho con người niềm tin
rằng hắn đang mang trong chính hắn một nguồn
năng lực vĩnh hằng.
Cũng nhờ sự nhiệt t́nh tỏ lộ rơ
rệt trong quyển sách mà Malraux được hầu
hết giới trẻ ở Pháp thập niên 20-40 xem như
nhà d́u dắt tinh thần vĩ đại, kể từ sau
thế chiến II.
*/ Maurice BLANCHOT
(1907-1985) trong hai bộ tiểu luận quan
trọng, Faux-Pas (1943) và La Part du Feu (1949) th́
không xét đoán các tác giả, cũng chẳng làm những so
sánh giữa các tác giả. Ông không cố gắng đặt
để họ trong lịch sử văn chương. Ông
chỉ quan tâm theo nền tảng và nguyên gốc của
văn chương trong các quyển sách được
nhiều tác giả viết ra và nhiều độc giả
đọc chúng. Những tác giả được ông dành
cho t́nh cảm mạnh mẽ là những người đă
đặt ra những câu hỏi về mục đích
của văn chương: Kafka, Holderlin, Mallarmé, Gide, Sartre; hoặc những
người khi viết, đă cố tạo nên trong cách
viết của họ một giá trị vượt quá
mọi diễn tả thông thường: Rimbaud và Lautréamont.
Blanchot, một trong những người sâu sắc uyên
thâm nhất trong số những nhà phê b́nh mới, đă
tỏ ra rất thích thú trong sự phân tích những mâu
thuẫn và ư kiến đối nghịch của văn
chương. Trong tiểu luận Droit à la Mort (đăng trong tập La Part du Feu),
Blanchot bàn luận đến sự cao quư của ngôn
ngữ trên cả hai mặt phủ định và quyết
định trong cuộc đời này.
*/ Emile Michel
CIORAN (1911-1995) nhà viết tiểu
luận và cũng là triết gia gốc Romani. Tập Précis de Décom- position (1949) của ông là một
diễn tả toàn thể triết lư hư vô. Một
sự thất vọng không nguôi thâm nhập trong ông,
khiến ông hoài nghi và từ chối bất cứ thực
tế xă hội hay luân lư nào. Trong những bài viết, Cioran
đặt để thế giới trên sự xét xử và
kết án nó. Ông kêu rằng số phận con người
sinh ra là để tàn rụi với các lục địa
và các v́ sao. Và ông viết: "Sự phân hủy điều
khiển luật lệ cuộc đời."
Là nhân chứng sản sinh từ một chủ nghĩa
bi quan đen tối, Cioran đă tiên tri đến
điều một sự tự sát tập thể của
thế giới sẽ phải xảy đến trong
tương lai. Với câu hỏi "Tại sao con
người cứ măi tiếp tục sống?", ông tỏ ra nghi ngờ về giá trị
của tôn giáo, triết học và lịch sử. Ông gọi
các nghệ sĩ sáng tạo là những kẻ hèn nhát và
cũng là nạn nhân thời đại. Trong tập Précis de Décomposition, ngôn
ngữ diễn tả về sự thất vọng
được ông bày tỏ tuyệt diệu bằng
giọng văn thuần khiết, ngắn gọn và súc tích.
*/ Với các nhà nghiên cứu văn
học sử Pháp, sự t́m biết về Marcel PROUST (1871-1922) từng gặp thuận tiện lớn lao bởi
quyển sách tuyệt diệu của André Maurois, À la Recherche de Marcel
Proust (1949). Ngoài ra, trong thời
gian ấy, hai tác phẩm rất quan trọng của Proust
cũng được xuất bản dưới sự
giúp đỡ nỗ lực của Bernard de Fallois.
Quyển thứ nhất, Jean Santeuil
(viết trong khoảng 1896-1904, nhưng măi đến
năm 1952 mới được xuất bản). A la Recherche du Temps
Perdu măi về sau mới
được hoàn tất, nhưng ngay từ trong Jean Santeuil, Proust đă cho thấy chính ḿnh là một
thiên tài trong sự phân tích minh mẫn và tế nhị về
t́nh cảm con người; cũng là sở hữu
được một trí nhớ kỳ diệu.
Trong A la Recherche du Temps Perdu, Proust kể về
thời thơ ấu của ḿnh (có những cảnh thân
mật của một đứa trẻ quá nhậy cảm
sẽ không chịu đi ngủ nếu không được
mẹ hôn), về tuổi thiếu niên khi ông yêu một cô
gái gặp trong Champs-Élysées, cô gái mang định mệnh
trở thành nhân vật Gilberte trong phần cuối của A la Recherche du Temps
Perdu, và về sự thành
công xă hội ban đầu của ông.
Quyển thứ hai, Les Chroniques, từng xuất
hiện quần chúng năm 1927, nhưng phải đợi
đến năm 1954 mới được Bernard de Fallois
bảo trợ xuất bản thành sách dưới tựa
đề được sửa lại là Contre Sainte-Beuve suivi
de Nouveaux Mélanges.
Đó là một tập gồm các tiểu luận văn
chương mà trên cả hai mặt phân tích và nhận xét
văn chương đều mang giá trị sáng chói như
nhau. Nó cũng là quyển sách chống trả lại
với những lời được xuất bản
hằng năm ở Pháp rằng: "Các nhà phê b́nh chỉ
là những người không thể sáng tạo và là
những kư sinh sống bám so với những nhà sáng tạo
thật sự." (Rơ ràng, ngoài những
bài phê b́nh sắc bén đăng trong quyển này, Proust c̣n
sáng tạo được những tác phẩm văn
chương có tầm vóc lớn).
Nhiều trang trong quyển Contre Sainte-Beuve có thể được nh́n như những bài phê b́nh
giá trị, đặc biệt các trang nói về hội
họa của Elstir, các quyển sách của Bergotte và các sáng
tác âm nhạc của Vinteuil. Riêng bài viết mang cùng cái
tựa Contre Sainte-Beuve chiếm đến 96 trang trong
toàn tập, qua đó, Proust bàn luận về Nerval, Baudelaire
và Balzac, ba tác giả được Proust nhận
định rằng đă từng bị hiểu sai và
đối xử bất công bởi Sainte-Beuve. Cấu trúc
trong bài tiểu luận này được Proust dùng theo h́nh
thức một câu chuyện đàm thoại giữa ông và
mẹ ông; những lời ông phàn nàn với mẹ chính là
những lời chống đối lại phương
pháp phê b́nh của Sainte-Beuve. Một cách chính thức, Proust
từ chối sự dẫn chứng bằng tư
liệu trên cuộc đời của các tác giả. Proust
tin rằng, một sáng tác văn chương là sản
phẩm của một bản ngă hoàn toàn khác biệt
với cái tự ngă mà tác giả thường phô bày qua
những thói quen và trong đời sống xă hội
hằng ngày.
Tuy nhiên chính Proust cũng đă tỏ ra bất công
với Sainte-Beuve khi làm cuộc tấn công chung chung như
thế. Không cứ Nerval và Baudelaire hay Mallarmé -những
người cùng thời với Sainte-Beuve, mà ngay cả
nhiều thi sĩ thế kỷ 16, 17 và 18 cũng
được Sainte-Beuve đề cập một cách thích
đáng trong các tiểu luận phê b́nh của ông. Dẫu
thế, nhờ các bài của Sainte-Beuve mà tác phẩm Sylvie
của Nerval và Les Fleurs du Mal của Baudelaire đă được
bán chạy; và ngày nay cũng nhờ Contre Sainte-Beuve của Proust mà chúng càng được bán chạy
hơn.
Contre Sainte-Beuve suivi
de Nouveaux Mélangés không chỉ là một
sự góp phần trong văn chương phê b́nh ở Pháp
với quan điểm rộng lượng dành cho phái
Biểu Tượng và quan điểm ít khoan hồng hơn
dành cho Balzac, người mà Proust luôn luôn tỏ ra không thích
(có lẽ v́ Balzac quá gần với Proust trong vai tṛ một
tiểu thuyết gia?), mà nó c̣n được xem như
một tác phẩm đồng hành quan trọng với A la Recherche du Temps
Perdu.
*
* *
*/ Giới nhà văn Pháp hiện đại chỉ
mới bắt đầu hợp nhất từ sau
những năm bị chi phối bởi phong trào kháng
chiến và trải qua kinh nghiệm tàn khốc trong
những trại tập trung Đức Quốc Xă.
Chẳng bao lâu sau cuộc giải phóng, trong tháng 12/1946,
mở đầu cuộc họp của UNESCO ở Paris,
André Malraux đọc một bài diễn văn rất quan
trọng, nhắc lại câu nói của Nietzche vào cuối
thế kỷ 19 đă làm bàng hoàng cả thế giới khi
tuyên bố rằng "Thượng Đế đă
chết."
Tiếp tục bài diễn văn, Malraux nói:
"Ngày nay chúng ta
phải đối diện với vấn đề
rằng con người có đă chết hay không?"
Nhiều nhà tư tưởng Âu Châu đang tự
hỏi không biết cái kinh nghiệm chấn động
về những cuộc tàn sát tập thể xảy ra trong
thế chiến II vẫn c̣n tồn tại trong tâm trí
người dân Tây Phương, liệu có thể làm
mất đi hiệu lực sáng tạo nghệ thuật
hay chăng? Sự đau khổ dữ dội mà nhiều
người đàn ông lẫn đàn bà ngày nay phải gánh
nhận thật quá khác biệt với sự đau khổ
tinh thần của Pascal, hay cái đam mê của Phèdre (nhân
vật trong bi kịch Phèdre của Racine, 1677), hoặc
chính ngay nỗi đau khổ nguyên thủy của Victor
Hugo. Có
thể nói rằng bộ mặt của con người
thời đại bị biến đổi nhiều
bởi sự đau khổ quá độ, đến
nỗi họ không thể trở thành một chủ
đề thú vị cho nghệ sĩ.
Bức tranh lớn, Guernica của Picasso tŕnh bày sắc mặt và
h́nh dáng con người bị méo mó đi dưới
sức công phá liên minh của sự thống khổ và cái
chết. Cuốn Les Jours de notre mort (1947)
của David Rousset là một trong những tiểu thuyết
xuất sắc về trại tập trung. Trong La Peste của Camus, cả thành phố tự nó biểu
trưng như một trại tập trung vĩ
đại. Những kẻ sát nhân, dù có tội hay vô
tội, cũng từng được nghiên cứu,
phơi bày một cách ngoại lệ trong văn
chương hiện đại. Nhân vật Julien Soret trong tác phẩm Le Rouge et le Noir
của Stendhal có lẽ là tổ tiên của một
đội ngũ nhân vật rộng lớn trong các tiểu
thuyết ngày nay: L' Étranger của Camus, Brighton Rock của Graham Green, Moira của Julien Green, Phiên Ṭa của Kafka.
Những chủ đề như thế trong thời
kỳ phong trào kháng chiến th́ không được sáng
tạo theo bất cứ trường phái văn
chương nào. Thực sự, dù cho với những
cương lĩnh đáng chú ư của phái Siêu Hiện
Thực (Surrealism) trong thập niên 30 và
phái Hiện
Thực (Existentialism) thập niên 40, nền
văn chương thế kỷ 20 vẫn biểu thị
rơ rệt một sự thiếu vắng những nhịp
chuyển động văn chương có tổ chức
và hệ thống chặt chẽ. Không ǵ ngày nay có thể so
sánh được với những trường phái văn
chương Lăng Mạn (Romantism) hay Biểu Tượng
(Symbolism) thế kỷ 19. Văn chương
thế kỷ 20 ở Pháp cũng phong phú chẳng kém ǵ trong
thế kỷ 19, nhưng lại quá rối rắm, hỗn
loạn. Trên sự t́m kiếm một giá trị trí thức
và đúng lề thói, văn chương hiện đại
đă lớn dậy bên trong sự định giá về
nghệ thuật phê b́nh. Khía cạnh này, có thể gọi
rằng phong phú. Bốn bậc thầy đă chế
ngự phân nửa thế kỷ: Proust, Valéry, Gide và Claudel. Thêm André Breton và những người phái Siêu Hiện Thực nói chung.
Luôn Francois
Mauriac và những nhà văn Thiên Chúa Giáo
đă dâng hiến tài năng trong các bài phê b́nh để mong
đạt tới một sự giải thích và nhận
định hoàn hảo hơn trong lănh vực sáng tác văn
chương.
Sự thật, rất khó để vạch ra một
tác phẩm nào được cảm hứng trực
tiếp từ những cảm xúc đột ngột mang
tính cách thời đại. Proust và Gide chủ yếu
viết về lịch sử của đầu óc và sự
cảm xúc riêng họ. Giống như Rimbaud, những nhân
vật của Saint-Exupéry, Mauriac, Julien Green th́ cô đơn;
thỉnh thoảng cũng cô đơn luôn trong những
chuyến phiêu lưu, những việc nguy hiểm bất
ngờ. Điều này đúng cả với những nhân vật
của Bernanos (nhà văn Pháp, 1888-1948), người đă
dạy (nhiều hơn bất cứ giáo điều Cơ
Đốc nào) về những chia xẻ cảm thông trong
sinh hoạt các vị thánh.
*/ Cái chết của Antonin ARTAUND năm 1948, xảy ra sau 9 năm lưu trú trong nhà
thương điên, đă gợi sự chú ư về
trường hợp cô đơn đặc biệt
của ông và luôn cả bài tiểu luận sôi nổi ông
viết về Van Gogh, người mà ông gọi là "tự sát v́ xă
hội." Trong sự diễn
giải chứng điên của Van Gogh cũng như về
một tâm hồn nghệ sĩ bị trĩu nặng
bởi xung lực sáng tạo, Artaund đă cung cấp cho
độc giả một tài liệu quan trọng trên "cái nh́n của
một nghệ sĩ hiện đại hướng
về một nghệ sĩ hiện đại khác." Trong phần giới thiệu điểm chính yếu
của bài viết, Artaud so sánh Van Gogh với Gauguin. Gauguin tin rằng "bổn
phận người nghệ sĩ là t́m kiếm một
biểu tượng quan trọng cho nghệ thuật và làm
lớn rộng nó cho đến khi nào nó tạo thành một
tưởng tượng."
Nhưng c̣n Van Gogh lại tin rằng "tính chất xác thực
của hầu hết mọi sự vật trong đời
đều vượt cao hơn bất cứ câu chuyện
thần tiên hoặc thần thánh nào." Những trang của Artaund luận về hành
động bất thường của thiên tài dễ làm
phẫn nộ độc giả, và các lư do chung quanh cái
chết Van Gogh rơ ràng giống như một bản truy
tố xúc động trên thời đại nhà nghệ
sĩ thiên tài đă sống qua.
*
* *
*/ Mỗi tác phẩm văn học chỉ
sở hữu một tầng cấp nhỏ trong sự khai
triển chiều hướng đầy ư nghĩa rộng
lớn hơn rất nhiều của văn chương. Gide và Valéry hiểu lẽ này và cũng hiểu cả
cái vận mệnh của văn chương. Họ
biết rằng một tác giả sẽ không bao giờ có
thể tự hợp nhất hoàn toàn được
với tác phẩm của ḿnh. Khi
Proust dùng nhân vật thứ nhất làm chủ thể trong A la Recherche du Temps
Perdu, tức là Proust đă vượt ra
khỏi sự giao ước chính ông với bất cứ
ư thức tuyệt đối nào của tác phẩm ấy.
Montherlant từng bị phê b́nh bởi Mme Magny v́ đă không
tạo nổi sự phân biệt tương xứng
giữa cá nhân và văn chương ông. Mme Magny gọi
văn chương, trong chiều hướng này, là một
tṛ chơi; trong đó tất cả mọi người
đều có thể gian lận, đánh lừa kẻ khác.
Nhưng nó cũng là tṛ chơi mà mỗi người không
thể vớ được những đồng tiền
phen nữa để đặt cuộc lần thứ hai.
Trong nước Pháp hiện nay có những dấu
hiệu rơ ràng về sự bắt đầu của
một nền văn chương mới. Ít nhất,
một t́m ṭi hăng hái được xúc tiến cho
một ư nghĩa mới của sự chuyển
hướng. Hơn nửa thế kỷ trước,
Jacques Rivière đă nói về những cơn khủng
hoảng trong sự nhận thức văn chương. Cái bệnh hoạn
chính của văn chương
từng được chẩn đoán và vạch rơ trong
nhiều đường lối mâu thuẫn. Sự
bệnh hoạn được gọi là "h́nh
thức cầu kỳ", hoặc như một sự
"thiếu vắng bóng dáng nghệ thuật." Có thể nói rằng, sở dĩ như thế là do
nẩy sinh từ "khuynh hướng duy lư quá
độ", hoặc "khuynh hướng thiên
về tính phi lư" trong các nhà làm văn chương. Điều ǵ xem ra vượt quá sự nghi ngờ
thông thường đều trở thành ước
muốn sáng tạo của giới văn chương
hiện đại. Có lẽ trên khía cạnh này, giữa
phái Lăng Mạn và Siêu Hiện Thực, văn chương
mang nhiều tính liên hệ hơn là chúng ta có thể
nhận thức ngày nay.
Lơ lửng giữa thời kỳ từ 100 tới
150 năm trở về sau, câu nói của Rimbaud trên "những
sức mạnh siêu tự nhiên"
của thi ca và sự lặng thinh nổi tiếng của
ông trong vùng Ethiopie (Phi Châu) đă chứng thật cho
điều bận tâm vừa kể.
*/ Vào những năm gần cuối thời
kỳ dài này, với những kinh nghiệm khác
thường, các nhà văn như Simone WEIL (1909 -1943) để lộ một sự t́m
kiếm tuyệt đối, trong đó nhiều sức
mạnh và tín ngưỡng mâu thuẫn đă bị khắc
phục: t́nh trạng hỗn loạn và ḷng yêu nước,
truyền thống và cách mạng, lư lẽ và niềm tin.
Trong cuốn L' Enracinement,
người phụ nữ trẻ từng là giáo sư,
thợ nhà máy, chiến sĩ cách mạng, người
thần bí và nhà triết học, đă viết về "sự cần
thiết phải đón nhận tất cả mọi ư
kiến quan điểm, sắp xếp chúng lại trong
một môi trường thích hợp theo tŕnh độ con
người hơn." Ngay đỉnh cao,
Simone Weil đặt để Thượng Đế là
đấng mà bà có nhiều từ đồng nghĩa khác
nhau để gọi, ví dụ như "sự thật",
"ánh sáng", hay "đối tượng chinh
phục của văn minh, của nước Pháp và
từng mỗi con người."
Nhờ công lao thu thập và xuất bản của Gustave
Thibon (triết gia Pháp) mà các tác phẩm của Simone Weil
được biết đến rộng răi. Đó là
một đầu óc thông thái chú trọng đặc
biệt đến ḷng yêu sự thật và sự liên
hệ với nhiều vấn đề về thế
giới hôm nay. Những kinh nghiệm khác thường
của bà được xếp vào hàng thần bí. Nó
bắt kịp triết học Hy Lạp hoặc giống
như truyền thống triết học Công Giáo Do Thái.
Những bài viết, ngay cả dưới h́nh thức
những mảnh đoạn, cũng là một chứng
thực trên ư nghĩa giá trị mà con người hiện
đại đang mong muốn t́m kiếm cho cuộc
đời.
Cái "tâm
khổ hạnh" đặc biệt của bà dường
như đặt để trên sự ao ước từ
bỏ tất cả mọi thứ t́nh cảm, làm trống
rỗng con người trước mọi ham muốn b́nh
thường trong đời sống. Trong
hai tác phẩm chính, La Pesanteur et la Grâce (1948) và l'Enracinement (1949), bà phân tích không chỉ cái bản ngă (le
moi) đă là chướng ngại chính yếu trong sự
t́m hiểu của bà về một đấng
Thượng Đế, mà c̣n phân tích những lănh vực
khác như văn chương, kinh tế, tôn giáo, lịch
sử, giáo dục, chính trị và từ đó đưa ra
những đường lối để con người
có thể t́m lại được đời sống
đạo đức, trí thức và tinh thần của
họ.
(San Jose, October 4/1996)
[Bài viết dành tặng riêng cho
"những nhà phê b́nh văn
chương" (?!) hải ngoại!]
[]